Huyết Mạch Đế Vương

FYD App

Bốn Chiếc Bánh Và Ba Trăm Cái Tên

Tên Trong Sổ

Sáng hôm sau, người của Đông Hà, Tây Hà cùng các hộ quanh huyện được gọi tới bãi đất bên bờ kênh.

Trời còn chưa sáng hẳn, nhưng bờ kênh đã đông nghịt người.

Người già chống gậy.

Phụ nữ ôm con.

Thanh niên vác cuốc, vác xẻng, có người còn mang cả đòn gánh, như thể nếu nghe không vừa tai thì lập tức có thể chuyển từ bàn bạc dân sinh sang đánh nhau dân sinh.

Gã đồ tể nhìn đống cuốc xẻng kia, nhỏ giọng nói với chưởng quầy:

“Không khí này hơi quen.”

Chưởng quầy lạnh lùng đáp:

“Quen vì lần trước ngươi cũng vác dao tới.”

“Ta vác dao là để giữ thể diện cho Phong ca.”

“Ngươi giữ thể diện bằng cách làm người ta tưởng chúng ta muốn cướp huyện nha?”

Gã đồ tể suy nghĩ một chút.

“Cũng có khí thế mà.”

Chưởng quầy không muốn nói chuyện với hắn nữa.

Bên kia bờ kênh là gần ba trăm lưu dân.

Không ai dám bước qua cây cầu gỗ nhỏ.

Họ đứng thành từng nhóm, già trẻ lớn bé chen chúc bên nhau. Có người cúi đầu, có người ôm chặt tay con, có người nhìn bờ bên này bằng ánh mắt thấp thỏm đến mức giống như chỉ cần một tiếng quát lớn là sẽ lập tức quay đầu chạy.

Nhưng họ cũng không còn sức chạy nữa.

Hai ngày cháo nóng chỉ đủ kéo họ từ bờ chết về lại một chút.

Còn sống tiếp hay không, phải xem hôm nay.

Lý Trường Phong đứng dưới tảng đá bên bờ kênh, trong tay cầm ống tre.

Vân Thanh Sơn đứng bên cạnh ông, áo xanh bị gió sớm thổi nhẹ.

Hắn nhìn đám đông trước mặt, lại nhìn Lý Trường Phong.

“Hôm nay ngài phải nói cho rõ.”

“Ừ.”

“Không thể chỉ nói thương người.”

“Ta biết.”

“Cũng không thể chỉ nói đại nghĩa.”

“Ta cũng biết.”

“Càng không thể nói chuyện bán nhà.”

Lý Trường Phong quay sang nhìn hắn.

“Chuyện này ngươi có thể bớt nhắc một chút không?”

Vân Thanh Sơn bình thản đáp:

“Ta chỉ muốn nhắc ngài nhớ, hôm nay người cần được thuyết phục không phải Tạ cô nương.”

Lý Trường Phong cúi đầu nhìn ống tre trong tay.

Sáu tờ giấy nằm trong đó.

Giấy rất nhẹ.

Nhưng trong lòng ông lại nặng hơn cả một tảng đá.

Một ngày.

Tri huyện chỉ cho ông một ngày.

Nếu hôm nay dân Thanh Hà không gật đầu, gần ba trăm người bên kia bờ kênh sẽ phải nhận ba ngày lương thực rồi rời đi.

Ba ngày đường.

Một câu nghe rất rộng lượng.

Nhưng đối với người già, trẻ nhỏ, người bệnh và phụ nữ sắp sinh, ba ngày đường có khi chỉ là cách chết chậm hơn một chút.

Lý Trường Phong hít một hơi.

Sau đó ông bước lên tảng đá.

Gã đồ tể lập tức ngẩng đầu:

“Phong ca, huynh đứng vững không đấy?”

“Vững.”

“Lần trước huynh đứng trên tảng đá rồi trượt chân ngã ngay trước mặt chân mệnh—”

Vân Thanh Sơn ho khan một tiếng.

Một tiếng ho rất nhẹ.

Nhưng gã đồ tể lập tức cảm thấy sau gáy hơi lạnh.

Hắn vội đổi lời:

“Ý ta là, lần trước huynh ngã rất có khí thế.”

Lý Trường Phong cúi đầu nhìn hắn.

“Ngươi không nói thì không ai biết ngươi còn sống.”

Gã đồ tể thành thật ngậm miệng.

Đám đông vốn đang căng thẳng, nghe vậy có người không nhịn được bật cười.

Tiếng cười rất nhỏ.

Nhưng đủ để không khí bớt cứng.

Lý Trường Phong nhìn những gương mặt quen thuộc trước mặt.

Lão Trương của Tây Hà.

Đại Lực của Đông Hà.

Những nông hộ vừa trải qua hạn hán.

Những dân phu đã đổ mồ hôi đào kênh.

Những phụ nữ tính từng đấu gạo trong chum.

Những ông lão sống cả đời ở Thanh Hà và chưa từng nghĩ có một ngày huyện nhỏ này phải quyết định sống chết của gần ba trăm người xa lạ.

Ông không bắt đầu bằng việc nói lưu dân đáng thương.

Cũng không hỏi nếu đuổi họ đi, lương tâm mọi người có đau hay không.

Ông chỉ mở ống tre, lấy sáu tờ giấy ra.

“Ta biết các ngươi đang sợ điều gì.”

Đám đông dần yên xuống.

Lý Trường Phong nói:

“Sợ phần gạo của mình bị chia.”

“Sợ việc của mình bị cướp.”

“Sợ đất mình đào kênh vất vả mới có nước, cuối cùng lại phải giao cho người ngoài.”

“Sợ trong đám người ấy có kẻ xấu.”

“Sợ hôm nay nhận ba trăm người, ngày mai lại có ba nghìn người kéo tới.”

Ông ngẩng đầu.

“Những nỗi sợ ấy không sai.”

Câu này vừa nói ra, không ít người ngẩn người.

Họ vốn tưởng Lý Trường Phong sẽ mắng họ ích kỷ.

Hoặc nói vài câu đại nghĩa lớn đến mức nghe xong bụng vẫn đói.

Nhưng ông không làm vậy.

Một người Đông Hà hỏi:

“Vậy Phong ca định làm thế nào?”

“Không chia ruộng hiện có cho họ.”

Lý Trường Phong chỉ về vùng đất hoang phía bắc.

“Họ sẽ tự khai khẩn vùng đất ấy.”

“Không lấy phần công lương của người hai thôn. Tiền bán đá tăng lên vì có thêm người đào, phần tăng thêm dùng trả công cho họ.”

“Người Thanh Hà vẫn nhận đúng phần như trước.”

Một người khác hỏi:

“Nếu họ lười biếng, chỉ muốn ăn thì sao?”

“Lương chia hai phần.”

“Một phần căn bản để trẻ nhỏ, người già và người bệnh không chết đói.”

“Phần còn lại tính theo công việc.”

“Không làm thì không có phần thêm.”

Một phụ nữ Tây Hà hỏi:

“Nhưng người bệnh và nhà không còn đàn ông thì sao?”

“Phụ nữ có thể làm việc vừa sức như nấu ăn, vá bao tải, sàng đá, chăm người bệnh.”

“Nhà chỉ còn người già yếu vẫn có phần căn bản.”

“Chúng ta cứu người, không phải bắt người ta bán mạng đổi từng bát cháo.”

Bên kia bờ kênh, mấy người lưu dân cúi đầu rất thấp.

Có người lặng lẽ lau mắt.

Một lúc sau, Lão Trương chống gậy lên tiếng:

“Nếu trong số họ có trộm?”

“Cứ mười hộ lập thành một tổ, bảo chứng cho nhau.”

“Huyện nha sẽ ghi tên từng người, điều tra nguyên quán.”

“Người phạm tội thì xử người đó.”

Lý Trường Phong nhìn mọi người.

“Không vì một tên trộm mà đánh cả ba trăm người.”

“Cũng không vì họ đáng thương mà bỏ qua người thật sự nguy hiểm.”

Đại Lực gãi đầu.

“Ba năm miễn thuế, năm thứ tư nộp một nửa, năm thứ năm mới nộp đủ. Vậy có bất công với dân chúng ta không?”

“Các ngươi có ruộng, có nhà, có công cụ, có trâu, có cuốc, có lúa giống.”

Lý Trường Phong chỉ về phía lưu dân bên kia bờ.

“Họ bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.”

“Không đúng.”

Gã đồ tể nhỏ giọng nói:

“Có người còn không đủ hai bàn tay, hôm qua ta thấy một lão què.”

Chưởng quầy đá hắn một cái.

“Ngươi im đi thì khí thế sẽ giữ được lâu hơn.”

Lý Trường Phong tiếp tục:

“Nếu vừa khai hoang đã thu thuế, chưa kịp đứng lên họ sẽ lại phải bỏ đi.”

“Năm thứ tư nộp một nửa.”

“Năm thứ năm nộp đầy đủ như mọi người.”

“Đến lúc ấy, Thanh Hà có thêm ruộng, thêm người, thêm thuế, thêm nhân lực đào kênh.”

“Không ai phải nuôi họ mãi.”

Những tiếng bàn tán nhỏ dần.

Kế hoạch rất rõ ràng.

Rõ đến mức người ta không thể dùng một câu “không được” để gạt đi.

Nhưng hiểu được lợi ích không có nghĩa nỗi sợ lập tức biến mất.

Một người đàn ông lớn tuổi lên tiếng:

“Phong ca, ta tin huynh.”

“Nhưng chúng ta không biết họ.”

“Làm sao chắc sau khi vào huyện, họ không gây họa?”

Lý Trường Phong quay đầu nhìn phía lưu dân.

Rồi ông đáp:

“Ta cũng không thể chắc.”

Câu trả lời khiến cả bãi đất yên đi.

Ông nói tiếp:

“Ta không thể bảo đảm gần ba trăm người đều là người tốt.”

“Trong Thanh Hà chúng ta cũng có kẻ trộm gà, người đánh nhau, kẻ uống rượu thiếu tiền không chịu trả.”

Gã đồ tể lập tức ngẩng đầu.

“Vì sao huynh nhìn ta?”

“Ta chỉ nhìn ngẫu nhiên.”

Chưởng quầy cười lạnh.

“Ngẫu nhiên nhưng rất chuẩn.”

Đám đông bật cười.

Không khí căng thẳng cuối cùng cũng mềm xuống một chút.

Lý Trường Phong chờ tiếng cười lắng đi rồi mới nói tiếp:

“Ta không xin các ngươi tin rằng họ đều tốt.”

“Ta chỉ xin các ngươi cho họ một cơ hội để chứng minh.”

“Nếu họ phạm luật, xử theo luật.”

“Nếu họ chịu làm việc, giữ quy củ, cùng chúng ta đào kênh, cùng chúng ta trồng lúa, cùng chúng ta qua hạn, vậy sáu tháng sau hãy xem họ là người Thanh Hà.”

Một người hỏi:

“Nếu sau này Thanh Hà gặp nạn, chúng ta chạy tới nơi khác mà vẫn bị đóng cửa thì sao?”

Lý Trường Phong im lặng một lát.

“Ta không biết.”

Ông nhìn dòng nước đục đang chảy dưới chân.

“Nhưng ít nhất hôm nay, chúng ta có thể trở thành nơi mà chính mình mong sẽ gặp được trên đường chạy nạn.”

Không ai lên tiếng nữa.

Gió sớm thổi qua bờ kênh.

Trên mặt nước còn vương vài vệt bùn vàng.

Bên kia bờ, đứa trẻ từng lấy trộm chiếc bánh đang đứng lẫn trong đám lưu dân.

Nó nắm tay em gái.

Hai đứa trẻ gầy đến mức gió thổi qua cũng giống như có thể làm chúng lung lay.

Đứa lớn cố đứng thẳng.

Đứa nhỏ trốn sau lưng anh mình, chỉ lộ ra nửa khuôn mặt.

Lão Trương nhìn hai đứa trẻ thật lâu.

Cuối cùng, lão chống gậy bước qua cây cầu gỗ nhỏ.

Mọi người nhìn theo lão.

Đứa trẻ kia lập tức căng cứng cả người.

Lão Trương đi đến trước mặt nó, cúi đầu hỏi:

“Biết chăn trâu không?”

Đứa trẻ lắc đầu.

“Biết cắt cỏ?”

Nó tiếp tục lắc đầu.

“Biết nhổ cỏ ruộng không?”

Nó lại lắc.

Lão Trương cau mày.

“Vậy ngươi biết làm gì?”

Đứa trẻ cúi đầu, lí nhí:

“Biết ăn ít.”

Lão Trương bỗng quay mặt đi.

Ông lau khóe mắt rất nhanh, nhanh đến mức giống như chỉ phủi bụi.

“Trẻ con không cần biết ăn ít.”

Lão khàn giọng nói:

“Ngày mai theo ta học cắt cỏ.”

Đứa trẻ ngẩng đầu lên.

Nó nhìn Lão Trương, mắt mở rất to, giống như không hiểu vì sao người trước mặt không mắng nó, cũng không đuổi nó đi.

Đại Lực cũng bước qua cầu.

“Thôn Đông Hà nhận mười hộ trước. Nhưng nói rõ, ai lười thì ta đuổi khỏi ruộng.”

Một người Tây Hà lập tức không phục.

“Đông Hà nhận mười hộ thì Tây Hà nhận mười hai.”

Đại Lực quay đầu.

“Vì sao các ngươi phải hơn?”

“Ruộng chúng ta rộng hơn.”

“Rộng hơn nhưng đất thấp.”

“Đất thấp mới dễ trồng!”

“Dễ trồng mà năm ngoái các ngươi còn sang Đông Hà mượn giống?”

“Đó là vì giống Đông Hà mọc lì, giống người Đông Hà các ngươi vậy, khó nhổ!”

Hai thôn rất nhanh lại cãi nhau.

Cãi đến mặt đỏ tai hồng.

Cãi đến mức lưu dân bên kia bờ cũng ngơ ngác.

Lý Trường Phong đứng trên tảng đá nhìn cảnh ấy.

Lần đầu tiên trong đời, ông cảm thấy tiếng cãi nhau của dân Thanh Hà nghe thuận tai đến vậy.

Từ sáng đến trưa, Lý Trường Phong trả lời hết câu này đến câu khác.

Có câu ông đáp được ngay.

Có câu phải mở ống tre ra đọc lại.

Có câu ông im lặng rất lâu, rồi nói: “Chuyện này ta sẽ ghi lại, đưa huyện nha định rõ.”

Đến trưa, hầu hết mọi người đều đồng ý.

Không phải tất cả đều hết lo.

Nhưng họ chấp nhận thử sáu tháng.

Thử xem những người không nhà kia có thể thành người cùng đào kênh với mình hay không.

Thử xem đất hoang phía bắc có thể mọc lên lúa hay không.

Thử xem Thanh Hà có thể rộng thêm một chút hay không.

Khi Tri huyện Thanh Hà nhận được kết quả, ông im lặng rất lâu.

Rồi ông lấy quan ấn ra.

Bản lưu hộ tạm tịch được đặt ngay ngắn trên bàn.

Sư gia đứng bên cạnh, tay áo khẽ run.

Hai lại viên nín thở.

Lý Trường Phong đứng dưới công đường, lần này không nói gì thêm.

Ông đã nói hết lời phải nói.

Phần còn lại không nằm trong miệng ông nữa.

Nó nằm dưới bàn tay của Tri huyện.

Tri huyện nhìn bản văn thư lần cuối.

Sau đó đặt quan ấn xuống.

Một tiếng “cạch” rất nhỏ vang lên.

Nhỏ đến mức ngoài sân có lẽ chẳng ai nghe rõ.

Nhưng đối với gần ba trăm người đang chờ bên ngoài, nó giống như tiếng một cánh cửa vừa mở ra.

Việc ghi danh bắt đầu ngay trong buổi chiều.

Từng hộ lần lượt bước tới trước bàn.

Tên.

Tuổi.

Quê quán.

Nghề nghiệp.

Người thân.

Ai còn giấy tờ thì nộp giấy tờ.

Ai không còn thì khai miệng.

Ai sợ đến mức nói không rõ, Lý Trường Phong liền rót cho một bát nước.

Gã đồ tể đứng bên cạnh giữ trật tự.

Hắn vốn định thể hiện khí thế hung hãn.

Nhưng vừa nhìn thấy một bà lão run rẩy bước lên, hắn lập tức thấp giọng:

“Bà chậm thôi, không vội, cái bàn này không chạy được.”

Chưởng quầy ngồi ghi phụ, thỉnh thoảng liếc hắn.

“Ngươi cũng biết nói tiếng người à?”

Gã đồ tể nghiêm túc đáp:

“Ta vẫn luôn biết, chỉ là bình thường không có dịp dùng.”

Khi đến lượt đứa trẻ lấy bánh, viên lại ngẩng đầu hỏi:

“Tên gì?”

Đứa trẻ cúi đầu.

“Mọi người gọi con là Cẩu Nhi.”

Viên lại dừng bút.

“Có tên chính thức không?”

Nó lắc đầu.

“Mẹ đâu?”

“Chết trên đường rồi.”

“Cha?”

“Con không biết.”

Viên lại cầm bút, nhất thời không biết phải viết thế nào.

Lý Trường Phong ngồi bên cạnh nhìn đứa trẻ.

“Ngươi muốn tên gì?”

Đứa trẻ ngơ ngác.

“Con được tự chọn sao?”

“Đây là tên của ngươi.”

Đứa trẻ mím môi.

Nó suy nghĩ rất lâu.

Lâu đến mức gã đồ tể bên cạnh cũng sốt ruột.

“Hay gọi là Trần Đại Lực?”

Đại Lực lập tức trừng mắt:

“Vì sao phải theo tên ta?”

“Nghe khỏe.”

Chưởng quầy lạnh lùng nói:

“Vậy sao ngươi không tự đổi thành Vương Đại Não?”

Gã đồ tể suy nghĩ.

“Cũng không phải không được.”

Chưởng quầy nhìn hắn.

“Ta bắt đầu lo ngươi thật sự thấy được.”

Đứa trẻ nhỏ giọng nói:

“Con muốn tên có chữ An.”

Mọi người dần yên xuống.

Lý Trường Phong hỏi:

“Vì sao?”

Đứa trẻ nhìn sang em gái.

“Vì mẹ nói, chỉ cần tới được nơi bình an thì hai anh em sẽ sống.”

Lý Trường Phong im lặng một lát.

Rồi ông gật đầu.

“Vậy gọi là Trần An.”

Viên lại cúi đầu viết hai chữ xuống sổ.

Trần An.

Đứa trẻ kiễng chân nhìn.

“Đó là tên con sao?”

“Phải.”

“Chữ nào là An?”

Viên lại hơi khựng.

Lý Trường Phong cúi đầu nhìn hai chữ trên sổ.

Ông nhận ra mình không nên tùy tiện chỉ.

Bởi chính ông cũng vừa mới bắt đầu thấy chữ nghĩa là thứ rất nghiêm trọng.

Chưởng quầy đứng bên cạnh nhìn một lát, rồi lấy một nhánh củi nhỏ, ngồi xổm xuống nền đất, viết một chữ.

An.

Nét không đẹp.

Nhưng rất rõ.

“Chữ này.”

Ông nói.

“An trong bình an.”

Đứa trẻ ngồi xổm xuống nhìn rất lâu.

Nó nhìn chăm chú như sợ chỉ cần chớp mắt, chữ ấy sẽ bay mất.

Một lát sau, nó dùng ngón tay gầy gò chạm nhẹ lên nét đất.

“Đây là tên con?”

“Là một nửa tên ngươi.”

Chưởng quầy đáp.

“Nhưng là nửa quan trọng.”

Đứa trẻ ngẩng đầu.

“Có tên trong sổ rồi thì ngày mai con không bị đuổi nữa?”

Viên lại dừng bút.

Lý Trường Phong đáp:

“Trong sáu tháng tới, ngươi phải làm việc, tuân luật và chăm sóc em gái.”

“Làm được thì sao?”

“Sau sáu tháng, tên ngươi sẽ được chuyển sang sổ chính.”

“Vẫn là hai chữ ấy?”

“Vẫn là hai chữ ấy.”

Đứa trẻ nhìn chữ An trên đất.

Rồi nhìn hai chữ Trần An trong sổ.

Rất lâu sau, nó cười.

Đó là lần đầu tiên Lý Trường Phong thấy nó cười kể từ ngày gặp nhau.

Nụ cười ấy rất nhỏ.

Nhỏ như một đốm lửa mới bén trong tro lạnh.

Nhưng đủ để người đứng gần đó cảm thấy lòng mình ấm lên.

Đêm ấy, người phụ nữ mang thai sinh được một bé trai.

Tiếng khóc trẻ sơ sinh vang lên trong ngôi miếu hoang.

Rất yếu.

Nhưng rất rõ.

Chưởng quầy lập tức nấu thêm một nồi cháo.

Gã đồ tể cuối cùng vẫn làm thịt con lợn.

Hắn ngồi bên bếp, nhìn từng miếng thịt được bỏ vào nồi với vẻ mặt đau đớn như đang tiễn một đoạn nhân duyên chưa kịp bắt đầu.

“Tiền cưới vợ của ta…”

Lão nhân có cô cháu gái mười một tuổi vỗ vai hắn.

“Cứu người trước. Cưới vợ là chuyện khác.”

Gã đồ tể ôm mặt.

“Lão đừng an ủi nữa. Ta nghe xong càng muốn khóc.”

Chưởng quầy múc cho hắn một bát cháo thịt.

“Ăn đi.”

Gã đồ tể nhìn bát cháo.

“Ta ăn tiền cưới vợ của mình, có phải hơi thê lương không?”

Chưởng quầy đáp:

“Không. Ngươi vốn không cưới được.”

Gã đồ tể suy nghĩ.

Cảm thấy lời này tuy tàn nhẫn, nhưng hợp lý.

Thế là hắn ăn liền ba bát.

Tiếng cười vang lên quanh ngôi miếu.

Bếp lửa cháy rất sáng.

Người mới sinh con nằm trong góc, bên cạnh là đứa trẻ vừa chào đời.

Cẩu Nhi, không, bây giờ là Trần An, ngồi bên em gái, hai tay ôm một bát cháo nóng.

Nó ăn rất chậm.

Không phải vì muốn ăn ít.

Mà vì lần đầu tiên sau nhiều ngày, nó không cần sợ bát cháo này là bữa cuối cùng.

Ăn được nửa bát, nó bỗng đặt bát xuống.

Chưởng quầy hỏi:

“Sao không ăn nữa?”

Trần An chỉ xuống nền đất.

Chữ An ban nãy đã bị người qua lại giẫm nhòe mất một nửa.

Nó nhìn chữ ấy, hơi hoảng.

Chưởng quầy im lặng một lát.

Rồi ông lấy một miếng bánh khô từ trong tay áo ra.

Đó là miếng bánh còn lại ban chiều, cứng hơn bánh hấp, cũng không còn nóng.

Ông dùng đầu nhánh củi, rất vụng về vạch lên mặt bánh một chữ.

An.

Chữ ấy càng xấu hơn chữ trên đất.

Xấu đến mức gã đồ tể nhìn thoáng qua đã muốn mở miệng.

Nhưng lần này, chưởng quầy chỉ liếc hắn một cái.

Gã lập tức nuốt lời thật xuống bụng.

Chưởng quầy đưa miếng bánh cho Trần An.

“Cầm lấy.”

“Ăn được không?”

“Được.”

“Vậy chữ có mất không?”

“Ăn rồi thì mất.”

Trần An ôm miếng bánh, vẻ mặt lập tức căng thẳng.

Chưởng quầy thở dài.

“Nhưng nếu ngươi nhớ, thì không mất.”

Trần An cúi đầu nhìn miếng bánh rất lâu.

Trên mặt bánh, chữ An lệch sang một bên.

Không đẹp.

Không ngay ngắn.

Nhưng nó nằm đó.

Rất thật.

Nó cẩn thận bẻ miếng bánh làm hai.

Một nửa đưa cho em gái.

Một nửa giữ trong tay.

Em gái nó nhỏ giọng hỏi:

“Ca, đây là gì?”

Trần An nhìn chữ trên bánh.

Rồi nói rất khẽ:

“Là An.”

“An là gì?”

Nó suy nghĩ một lúc.

“Là ngày mai không bị đuổi.”

Bếp lửa trong miếu hoang cháy lên, ánh sáng đỏ hắt lên gương mặt hai đứa trẻ.

Ngoài miếu, gió đêm thổi qua cỏ hoang.

Trong miếu, gần ba trăm người vừa có tên, có cháo, có một con đường chưa biết dài bao nhiêu nhưng ít nhất không còn bị chặn ngay trước mắt.

Không ai biết, rất nhiều năm sau, đứa trẻ ôm miếng bánh chữ An trong đêm ấy sẽ đứng trước một tòa thành phủ tuyết.

Không ai biết, khi đó ngoài thành sẽ có hai vạn người đói rét.

Cũng không ai biết, trên những chiếc bánh được đưa ra khỏi cổng Tây Châu năm ấy, vẫn sẽ có một chữ.

An.

Chữ không đẹp.

Nhưng còn sống.