Huyết Mạch Đế Vương

FYD App

Bốn Chiếc Bánh Và Ba Trăm Cái Tên

Sáu Tờ Giấy Trước Quan Ấn

Đến chiều hôm sau, Lý Trường Phong và Vân Thanh Sơn trở lại Thanh Hà.

Từ xa vừa nhìn thấy ngôi miếu hoang ngoài huyện, Lý Trường Phong đã lập tức thúc ngựa chạy nhanh hơn.

Khói vẫn còn bay lên từ bếp.

Nồi cháo vẫn còn đặt trước miếu.

Những người lưu dân vẫn chưa bị đuổi đi.

Trong khoảnh khắc ấy, Lý Trường Phong thở ra một hơi thật dài. Hơi thở ấy giống như đã bị nghẹn trong ngực ông suốt cả chặng đường.

Chưởng quầy đang ngồi trước cửa miếu, tay cầm một quyển sổ, mặt mũi nghiêm túc như đang tính chuyện quốc gia đại sự.

Gã đồ tể đứng bên cạnh, trên vai vác một con lợn.

Con lợn kêu inh ỏi.

Người kêu còn to hơn cả nó, suýt nữa là gã đồ tể.

Vừa thấy Lý Trường Phong xuống ngựa, chưởng quầy lập tức hỏi:

“Có cách chưa?”

“Có.”

“Có phải bán ngọc không?”

“Không.”

“Bán nhà?”

“Cũng không.”

Chưởng quầy thở phào nhẹ nhõm.

“May quá. Ta đang sợ ngươi bán thật. Căn nhà dột của ngươi bán xong, người mua còn phải trả thêm tiền sửa. Tính ra chưa chắc họ chịu.”

Lý Trường Phong nghẹn một chút.

“Nhà ta cũng chưa đến mức ấy.”

Gã đồ tể đặt con lợn xuống đất, vẻ mặt đầy hy vọng:

“Nếu đã có cách rồi, con lợn này ta mang về được chứ?”

Chưởng quầy lạnh lùng liếc hắn:

“Ngươi đã vác nó tới đây rồi còn muốn vác về?”

“Nó là tiền cưới vợ của ta.”

Một lão nhân trong đám lưu dân nghe vậy liền ngẩng đầu:

“Ta có một đứa cháu gái chưa gả.”

Hai mắt gã đồ tể sáng lên.

“Bao nhiêu tuổi?”

“Mười một.”

Gã đồ tể im lặng.

Con lợn cũng im lặng.

Một lúc sau, gã đồ tể đau đớn hỏi:

“Lão đang muốn gả cháu hay muốn báo quan bắt ta?”

Tiếng cười vang lên trước ngôi miếu hoang.

Tiếng cười không lớn.

Nhưng trong hai ngày qua, đó gần như là thứ xa xỉ nhất mà ngôi miếu này có được.

Lý Trường Phong bước vào trong.

Những người bệnh đã được chuyển sang một góc riêng. Mười bảy đứa trẻ bị sốt, có mười hai đứa đã hạ nhiệt. Bé gái được chia nửa chiếc bánh hôm trước đang ngủ cạnh mẹ, khuôn mặt nhỏ nhắn cuối cùng cũng bớt đỏ.

Người phụ nữ mang thai đã bắt đầu đau bụng.

Thời gian không còn nhiều.

Lý Trường Phong chỉ nhìn một vòng, không uống nước, không ăn cơm, thậm chí không kịp phủi bụi trên áo, lập tức quay người tới huyện nha.

Tri huyện Thanh Hà khi ấy đang ăn cơm.

Bữa cơm rất giản dị.

Một bát canh.

Một đĩa rau.

Một đĩa cá kho nhỏ.

Vừa nghe nha dịch báo Lý Trường Phong đã trở về, Tri huyện lập tức đặt đũa xuống.

“Hắn có mang theo miếng ngọc không?”

Nha dịch ngẩn ra.

“Thuộc hạ… không để ý.”

Tri huyện nhíu mày.

“Không để ý chuyện gì cũng được, sao lại không để ý miếng ngọc?”

Nha dịch càng ngẩn hơn.

Đại nhân, ngài là tri huyện hay là chủ tiệm cầm đồ?

Lý Trường Phong bước vào công đường.

Áo vải xám phủ đầy bụi đường, đôi mắt còn vằn tơ máu vì cả đêm không ngủ. Nhưng ông không nói một câu thừa, chỉ lấy từ trong áo ra một ống tre, mở nắp, rồi đặt sáu tờ giấy lên bàn.

Tri huyện nhìn sáu tờ giấy.

Lại nhìn ông.

“Đây là gì?”

“Một cách cứu người mà không khiến đại nhân mất chức.”

Tri huyện lập tức buông hẳn bát cơm.

“Nói tiếp.”

Lý Trường Phong không nói tiếp.

Ông đẩy sáu tờ giấy tới.

Tri huyện cầm lên đọc.

Ban đầu, sắc mặt ông vẫn còn nghi ngờ.

Đọc đến phần lập lưu hộ tạm tịch, lưng ông từ từ thẳng lên.

Đọc đến phần dùng công lương thay vì cứu tế, ông kéo ngọn đèn lại gần.

Đọc tới cách khai hoang đất phía bắc, chia kỳ miễn thuế, gom lưu dân vào công trình đào kênh, bát cơm bên cạnh đã nguội từ lâu.

Cơm nguội.

Canh nguội.

Cá kho cũng nguội.

Chỉ có mắt Tri huyện là càng đọc càng sáng.

Đọc xong, ông ngẩng đầu:

“Ngươi viết?”

“Không.”

“Ta biết ngay.”

Lý Trường Phong lập tức cảm thấy lòng người thật lạnh.

“Đại nhân không cần trả lời nhanh như vậy.”

Tri huyện không hề áy náy.

“Ngươi viết tên mình lúc to lúc nhỏ, có hôm chữ Phong còn giống chữ Phượng bị què chân. Sáu trang này không sai một chữ, không thể là ngươi.”

Lý Trường Phong há miệng.

Lại ngậm miệng.

Ông phát hiện mình không có chứng cứ phản bác.

Tri huyện cúi xuống nhìn giấy.

“Ai nghĩ ra?”

“Tạ Thanh Nghi.”

Bàn tay đang lật giấy của Tri huyện khựng lại.

“Trưởng nữ Tạ gia?”

“Phải.”

“Nghe nói là vị Tạ tiểu thư rất thông tuệ kia?”

“Chắc vậy.”

“Chắc vậy?”

“Ta tới nhờ nàng cứu người, không phải tới hỏi nàng nổi danh thế nào.”

Tri huyện im lặng một lúc.

Rồi ông cúi đầu nhìn sáu tờ giấy kia thêm lần nữa.

Nét chữ nhỏ mà đều.

Điều khoản rõ ràng.

Đường lui đầy đủ.

Từng câu từng chữ đều không giống thứ một người trẻ tuổi tùy tiện nghĩ ra sau một đêm. Nhưng càng không giống thứ mấy vị lão quan quen nói vòng vo có thể viết được.

Quá sắc.

Quá rõ.

Rõ đến mức khiến người đọc cảm thấy bản thân nếu còn giả vờ không hiểu, thật sự có chút mất mặt.

Tri huyện hỏi:

“Tạ tiểu thư có dùng danh nghĩa Tạ gia bảo đảm việc này không?”

“Không.”

“Có thư của Tạ đại nhân không?”

“Không.”

“Có lệnh của châu phủ không?”

“Cũng không.”

Tri huyện chậm rãi đặt sáu tờ giấy xuống.

“Vậy nói đến cuối cùng, người chịu trách nhiệm vẫn là ta?”

“Đúng.”

“Ngươi nói thật quá đấy.”

“Ta không thể nói dối để dụ đại nhân đóng ấn.”

Tri huyện nhìn ông.

Lý Trường Phong cũng nhìn lại.

Một người muốn cứu người.

Một người phải giữ huyện.

Giữa hai người là sáu tờ giấy mỏng.

Mỏng đến mức một ngọn gió cũng có thể thổi bay.

Nhưng nếu đóng ấn xuống, thứ bị đè bên dưới lại là cả tiền đồ của một vị quan.

Lý Trường Phong ngồi xuống đối diện Tri huyện.

“Tạ cô nương chỉ đưa ra một con đường hợp luật.”

“Đi hay không, vẫn là quyết định của đại nhân.”

Tri huyện không lập tức đáp.

Ông nhìn sáu tờ giấy kia, trong lòng bỗng sinh ra một cảm giác rất kỳ lạ.

Nếu sáu tờ giấy này do một vị đại nho tóc bạc viết ra, người ta sẽ nói là lão thành mưu quốc.

Nếu do một vị quan nhiều năm xử lý dân sinh viết ra, người ta sẽ nói là kinh nghiệm sâu dày.

Nhưng nó lại đến từ một cô nương mười tám tuổi.

Một nữ tử chưa từng làm quan.

Một người mà theo lẽ thường, lúc này nên ở trong khuê phòng thêu hoa, đọc thơ, chờ người đời khen một câu tài nữ.

Tri huyện bỗng hiểu vì sao Lý Trường Phong không nói vòng vo.

Bởi một khi nói vòng vo, việc đầu tiên người khác nhìn thấy có lẽ không phải kế sách.

Mà là người viết nó.

Tri huyện hỏi:

“Nếu châu phủ bác bỏ thì sao?”

Lý Trường Phong lấy trong áo ra thêm một tờ giấy.

“Nếu châu phủ hỏi vì sao tự tiện lập phụ tịch, dùng tờ này.”

Tri huyện nhận lấy.

Đó là một bản giải trình đã được viết sẵn, trích rõ điều luật cho phép huyện lập tạm tịch sau thiên tai, binh biến và lưu dân dồn về.

Tri huyện vừa đọc vừa cau mày.

“Nếu họ hỏi về kho lương?”

Lý Trường Phong lấy ra tờ thứ hai.

“Dùng cái này.”

“Nếu họ nói số người quá lớn?”

“Tờ thứ ba.”

“Nếu họ hỏi miễn thuế năm năm có vượt quyền không?”

“Tờ thứ tư.”

“Nếu họ hỏi vì sao huyện Thanh Hà tự tiện mở đất phía bắc?”

“Tờ thứ năm.”

Tri huyện ngẩng phắt đầu.

“Còn tờ thứ năm nữa?”

Lý Trường Phong thành thật đáp:

“Vốn có sáu tờ. Nhưng tờ thứ sáu ta không hiểu lắm.”

“Đưa đây.”

Tri huyện cầm lấy, đọc xong thì khóe mắt giật nhẹ.

Tờ thứ sáu là bản tự kiểm.

Ngay cả tình huống bị châu phủ mắng cũng đã viết sẵn.

Ngữ khí khiêm nhường.

Lời lẽ thành khẩn.

Nhận sai vừa đủ.

Không nhận chết.

Quan trọng nhất là, đọc xong còn khiến người mắng cảm thấy: huyện Thanh Hà tuy gan hơi lớn, nhưng cũng không phải không biết điều.

Tri huyện nhìn sáu tờ kế hoạch.

Lại nhìn sáu tờ giải trình.

Cuối cùng nhìn Lý Trường Phong.

“Tạ tiểu thư biết châu phủ sẽ hỏi những gì?”

“Không.”

“Vậy vì sao chuẩn bị đủ cả?”

Lý Trường Phong nghĩ một lát.

“Có lẽ nàng cảm thấy người làm quan khi muốn làm khó người khác, thường cũng chỉ hỏi quanh quẩn mấy chuyện ấy.”

Tri huyện cảm thấy ngực mình bị đâm một nhát.

Không sâu.

Nhưng rất chuẩn.

Ông chưa từng gặp Tạ Thanh Nghi.

Nhưng giờ phút này, ông có cảm giác mình đã bị một cô nương mười tám tuổi ngồi trong thư phòng nhìn thấu từ cái ấn quan đến cái bát cơm nguội.

Cảm giác ấy không dễ chịu.

Nhưng quả thật rất tiện.

Tiện đến mức Tri huyện thậm chí không biết nên giận trước hay nên sao chép trước. 

Tri huyện gọi sư gia cùng hai lại viên am hiểu hộ tịch tới.

Bốn người đọc đi đọc lại suốt một canh giờ.

Luật cũ trong kho bị lục ra.

Sổ hộ tịch cũ bị lật ra.

Ngay cả mấy quyển đóng bụi đến mức tưởng như tổ tiên của bụi cũng đang ở trong đó cũng bị đem ra đối chiếu.

Cuối cùng, không ai tìm được chỗ nào trái luật rõ ràng.

Sư gia vuốt râu, vẻ mặt vừa khâm phục vừa khó chịu.

Khâm phục vì cách này thật sự dùng được.

Khó chịu vì người nghĩ ra cách này còn chưa tới tuổi ông bắt đầu rụng râu.

Khó chịu hơn nữa là người đó còn là một nữ tử mười tám tuổi.

Sư gia sống đến từng này tuổi, từng gặp không ít người tự xưng đọc sách trị quốc. Nhưng phần lớn những người ấy nói đến dân sinh thì giọng rất lớn, nói đến sổ sách thì mắt bắt đầu nhìn trời.

Sáu tờ giấy này lại khác.

Nó không nói thương dân bằng miệng.

Nó chỉ rõ từng đấu gạo từ đâu ra, từng hộ người đặt vào sổ nào, từng phần đất hoang chia thế nào, từng trách nhiệm nếu xảy ra sai sót sẽ rơi vào tay ai.

Sư gia đặt giấy xuống, chậm rãi nói:

“Đại nhân, cách này mượn điều khoản khai hoang sau loạn để lập tạm tịch. Không nhập thẳng chính tịch, nên chưa cần điều chỉnh thuế ngạch ngay.”

“Lương thực lại được tính vào công trình đào kênh, không phải phát cứu tế vô danh.”

“Về lý, có thể làm.”

Tri huyện hỏi:

“Về tình?”

Sư gia nhìn ra ngoài.

Ngoài công đường, trời đã sắp tối.

Xa hơn nữa là ngôi miếu hoang có gần ba trăm người đang chờ.

“Đuổi họ đi, chưa chắc họ sống nổi.”

“Giữ lại không quản, sớm muộn cũng sinh loạn.”

“Cách này ít nhất còn quản được người, ghi được tên, chia được việc.”

Tri huyện im lặng.

Lý Trường Phong không thúc giục.

Ông biết đặt quan ấn xuống rất dễ.

Một tiếng “cạch” là xong.

Nhưng có những tiếng “cạch” sẽ đi theo một người rất nhiều năm.

Một lúc lâu sau, Tri huyện hỏi:

“Dân Thanh Hà có đồng ý không?”

“Ta sẽ nói chuyện với họ.”

“Nếu họ không đồng ý?”

“Ta tiếp tục nói.”

“Nếu vẫn không đồng ý?”

“Ta nghe xem họ sợ điều gì, rồi tìm cách giải quyết.”

Tri huyện nhìn ông.

“Ngươi chưa từng nghĩ đến chuyện dùng lệnh ép họ sao?”

“Ép họ mở cửa thì dễ.”

Lý Trường Phong lắc đầu.

“Nhưng không thể ép họ mở lòng.”

Công đường yên tĩnh.

Một lát sau, sư gia khẽ cúi đầu.

Hai lại viên cũng không nói gì.

Tri huyện nhìn gương mặt đã hai ngày chưa ngủ của Lý Trường Phong.

Ông bỗng nhớ tới rất nhiều năm trước, khi mình vừa mới nhận ấn quan, cũng từng nghĩ làm quan không khó.

Chỉ cần có luật.

Có sổ.

Có ấn.

Có công đường.

Sau này ông mới biết, thứ khó nhất không phải là đặt ấn xuống.

Mà là biết khi nào nên đặt.

Và đặt xuống rồi, có đủ can đảm chịu lấy phần hậu quả đi theo nó hay không.

Tri huyện kéo nghiên mực lại gần.

“Ta cho ngươi một ngày.”

Lý Trường Phong ngẩng đầu.

“Ngày mai, nếu dân hai thôn và những hộ quanh vùng chịu tiếp nhận kế hoạch này, ta sẽ đóng ấn.”

“Nếu không?”

“Ta cấp đủ lương thực cho lưu dân đi thêm ba ngày đường.”

Tri huyện nhìn ông, từng chữ rất chậm.

“Sau đó họ phải rời Thanh Hà.”

Lý Trường Phong im lặng.

Ngoài công đường, gió chiều thổi qua mái ngói cũ.

Xa xa dường như còn có thể nghe thấy tiếng ho khẽ của đứa trẻ trong miếu hoang, tiếng bát gỗ chạm nhau, tiếng người già cúi đầu cảm ơn vì một bát cháo loãng.

Một ngày.

Gần ba trăm mạng người.

Một con đường sống đã viết trên giấy.

Nhưng giấy không biết tự đi.

Lý Trường Phong cúi đầu, cẩn thận cất sáu tờ giấy vào lại ống tre.

Sau đó ông chắp tay.

“Được.”

Ông xoay người rời đi.

Đi tới cửa công đường, Tri huyện bỗng gọi lại:

“Trường Phong.”

“Hửm?”

“Lần này đừng mang tài sản của mình ra bảo đảm nữa.”

“Ta biết.”

“Ngươi còn tài sản gì không?”

Lý Trường Phong suy nghĩ rất nghiêm túc.

“Còn miếng ngọc.”

“Giữ lấy.”

“Còn căn nhà.”

“Cái ấy không tính.”

“Còn hồ lô.”

Tri huyện nhắm mắt.

“Đi đi.”

“Còn…”

“Đi.”

Lý Trường Phong rất thức thời.

Ông lập tức đi.

Ra khỏi huyện nha, trời đã hoàn toàn ngả tối.

Vân Thanh Sơn đứng dưới bậc đá chờ ông.

Thiếu niên áo xanh nhìn ống tre trong tay ông, rồi nhìn sắc mặt ông.

“Tri huyện nói thế nào?”

Lý Trường Phong đáp:

“Cho ta một ngày.”

“Một ngày?”

“Ừ.”

“Đủ không?”

Lý Trường Phong nhìn về phía miếu hoang ngoài huyện.

Nơi đó vẫn còn khói cháo bay lên.

Ông cười.

Nụ cười có chút mệt.

Nhưng không hề lui.

“Không đủ cũng phải đủ.”

Vân Thanh Sơn im lặng một lát.

Sau đó hắn đi xuống một bậc, đứng cạnh ông.

“Vậy trước tiên đi nói chuyện với dân Thanh Hà.”

Lý Trường Phong gật đầu.

“Đi.”

Đêm ấy, gió Thanh Hà thổi qua con đường đất còn ẩm.

Một người áo xám và một thiếu niên áo xanh đi về phía ánh lửa ngoài miếu hoang.

Trong ống tre trước ngực Lý Trường Phong, sáu tờ giấy nằm yên lặng.

Đường sống đã được viết ra.

Nhưng ngày mai, nó mới thật sự phải bước xuống khỏi giấy.