Huyết Mạch Đế Vương

FYD App

Một Lượng Bạc, Một Dòng Nước

Đá cũng là tiền

Vân Thanh Sơn đi về phía gò Đá Trắng.

Hắn cúi xuống nhặt một mảnh đá vừa được đào lên, lấy tay lau lớp đất bám bên ngoài, rồi đưa tới trước mặt Lý Trường Phong.

“Thanh Hà có thiếu đá xây móng không?”

Lý Trường Phong nhìn mảnh đá.
“Thiếu. Nhà trong huyện muốn xây nền đều phải chở đá từ phía tây tới. Giá không rẻ.”

“Châu phủ đang sửa đường quan?”

“Đúng.”

“Đê phía nam năm ngoái vừa vỡ, năm nay cũng phải gia cố?”

“Phải.”

Vân Thanh Sơn đặt mảnh đá vào tay ông.

“Vậy thứ nằm trong gò này không phải chướng ngại.”

Hắn dừng một chút.

“Nó là tiền.”

Lý Trường Phong cúi đầu nhìn mảnh đá trong tay.

Nhìn thế nào cũng chỉ thấy một cục đá.

“Ngươi chắc chứ?”

“Chắc.”

“Ta nhìn hơi lâu rồi, vẫn chưa thấy nó giống tiền.”

“Vì ngài đang nhìn bằng mắt của người muốn đào kênh.”

Vân Thanh Sơn nhặt một cành cây, vạch xuống đất ba chữ: đá, thóc, nước.

“Muốn đào kênh thì phải phá gò đá. Đá đào lên không cần vứt đi. Một phần dùng để kè bờ kênh, một phần bán cho thợ xây, cho hộ làm nhà, cho công trình sửa đường quan và gia cố đê.”

Lý Trường Phong ngồi xổm xuống cạnh hắn.

“Nhưng phải đào xong mới có đá. Hiện giờ lấy đâu ra công cụ, xe kéo, nhân lực?”

“Không cần đợi đào xong.”

Vân Thanh Sơn gõ cành cây xuống chữ đá.

“Huyện nha lập khế ước trước với mấy hiệu đá. Họ ứng công cụ, xe kéo, thậm chí ứng một phần tiền công. Đổi lại, sau khi đá đào lên, họ được mua theo giá đã định.”

Lý Trường Phong chậm rãi hiểu ra.

“Tức là… bán trước?”

“Ừ.”

“Bán thứ còn đang nằm dưới đất?”

“Miễn là nó thật sự nằm dưới đất.”

Lý Trường Phong nhìn gò Đá Trắng.

“Nếu đào lên không đủ trả thì sao?”

“Gò này dài nhưng không sâu. Ta đã nhìn địa thế, lượng đá lấy ra chỉ sợ nhiều hơn họ cần.”

“Ngươi chắc?”

“Chắc hơn việc ngài cầm miếng ngọc đi ép Phùng chưởng quầy tăng giá.”

Lý Trường Phong im lặng.

Câu này hơi đau, nhưng có lý.

Vân Thanh Sơn lại gõ xuống chữ thóc.

“Còn lương thực nuôi phu thì không thể chỉ trông vào huyện nha. Ruộng nào sau này hưởng nước từ kênh thì góp theo diện tích. Nhà ít ruộng góp sức. Nhà nhiều ruộng góp thóc. Phú hộ có nhiều ruộng nhất, đương nhiên góp nhiều nhất.”

Lý Trường Phong cau mày.

“Bọn họ sẽ không chịu.”

“Vì ngài gọi đó là quyên góp.”

Vân Thanh Sơn dùng cành cây gạch bỏ hai chữ “làm thiện” vừa viết trên đất.

“Đừng xin họ phát lòng tốt. Lòng tốt của phú hộ thường mỏng hơn cháo cứu tế.”

Lý Trường Phong bật cười.

“Câu này mà để họ nghe thấy, ngươi cũng bị mắng.”

“Cho nên chỉ nói với ngài.”

Vân Thanh Sơn viết thêm hai chữ: món lợi.

“Phải cho họ thấy đây không phải cho không. Kênh đào xong, ruộng có nước, sản lượng tăng. Đất hoang quanh đó cũng khai khẩn được. Số thóc bỏ ra hôm nay, vài mùa sau có thể thu lại gấp nhiều lần.”

Hắn ngẩng đầu nhìn Lý Trường Phong.

“Họ không phải đang cứu người khác. Họ đang bỏ tiền bảo vệ ruộng đất của chính mình.”

Lý Trường Phong nhìn mấy chữ trên đất, ánh mắt dần sáng lên.

“Còn nước?”

Vân Thanh Sơn gõ xuống chữ cuối cùng.

“Lập thủy ước.”

“Thủy ước?”

“Ghi rõ từng thôn, từng khu ruộng được lấy bao nhiêu nước. Đông Hà và Tây Hà cùng cử người giữ sổ. Huyện nha đóng ấn. Mỗi mùa căn theo mực nước mà điều chỉnh.”

Hắn vạch một đường dài trên đất, rồi chia thành từng ô nhỏ.

“Không giao cửa đập cho riêng bên nào. Không để nhà nào nhiều tiền thì lấy nhiều nước hơn số ruộng thực có. Ai góp bao nhiêu, hưởng bao nhiêu, phải viết rõ từ đầu.”

Lý Trường Phong nhìn những đường vạch ấy hồi lâu.

Đá biến thành tiền.

Thóc biến thành công.

Nước biến thành quy củ.

Cái gò đá khiến cả huyện đau đầu, qua miệng Vân Thanh Sơn, bỗng nhiên giống một cái kho chưa mở khóa.

Lý Trường Phong bất chợt hỏi:

“Ngươi nghĩ ra tất cả những chuyện này từ lúc nào?”

“Khoảng thời gian ngài đứng trong tiệm cầm đồ thương lượng từ ba mươi lượng lên ba mươi mốt lượng.”

“Chỉ trong lúc ấy?”

“Phùng chưởng quầy xem ngọc khá lâu.”

Lý Trường Phong nhìn thiếu niên trước mặt.

Lần đầu tiên gặp nhau chính thức, ông đã cảm thấy người này có gì đó không giống người thường.

Trong lúc tất cả mọi người nhìn thấy một gò đá chắn đường, thiếu niên này lại nhìn thấy đá kè bờ, xe kéo, hiệu đá, thóc nuôi phu, thủy ước chia nước, và một khoản tiền còn chưa được moi ra khỏi đất.

Lý Trường Phong cúi đầu nhìn mảnh đá trong tay.

Một lát sau, ông lẩm bẩm:

“Hay thật.”

Rồi lại bổ sung rất thật lòng:

“Nhưng lần sau nếu ngươi thấy tiền, có thể nói sớm hơn một chút. Ta suýt nữa mất miếng ngọc rồi.”

Lý Trường Phong đứng bật dậy:

“Đi.”

“Đi đâu?”

“Về huyện nha tìm Tri huyện.”

“Bây giờ?”

“Ừ.”

“Trời sắp tối.”

“Ông ấy chưa ngủ.”

“Ngài chắc chứ?”

“Không chắc thì đánh trống.”

Vân Thanh Sơn im lặng một lát.

Hắn đột nhiên cảm thấy vị Tri huyện Thanh Hà có thể sống đến hôm nay, phần lớn dựa vào thân thể khỏe mạnh.

Hai khắc sau.

Thùng! Thùng! Thùng!

Tiếng trống trước cửa huyện nha lại vang lên.

Tri huyện đang ăn cơm, nghe tiếng trống thì run tay làm rơi cả miếng thịt kho.

Ông chạy ra công đường, nhìn thấy Lý Trường Phong đứng bên dưới, sắc mặt lập tức tối sầm:

“Lại có thôn nào đánh nhau?”

“Không.”

“Có người bị bắt?”

“Không.”

“Đê vỡ?”

“Không.”

“Trâu lại làm chứng?”

“Cũng không.”

Tri huyện thở phào một nửa.

“Nửa đêm ngươi đánh trống làm gì?”

Lý Trường Phong đáp rất nghiêm túc:

“Ta tìm được cách đào kênh mà không phải bán nhà.”

Tri huyện nhìn ông một lát.

“Nhà ngươi có bán cũng chưa chắc có người mua.”

Lý Trường Phong quay sang Vân Thanh Sơn:

“Hôm nay đã có ba người nói gần giống vậy.”

Vân Thanh Sơn đáp:

“Điều đó chứng minh dân Thanh Hà rất thành thật.”

Tri huyện nghe thiếu niên áo xanh nói vậy, suýt nữa bật cười.

Nhưng ông là quan phụ mẫu.

Quan phụ mẫu không thể cười trước công đường.

Ít nhất không nên cười quá rõ.

“Ngươi là ai?”

Vân Thanh Sơn chắp tay:

“thảo dân Vân Thanh Sơn, người qua đường.”

Tri huyện nhìn Lý Trường Phong:

“Người qua đường của ngươi nửa đêm cũng đánh trống theo sao?”

Lý Trường Phong đáp:

“Người qua đường này có cách cứu tiền của huyện.”

Tri huyện lập tức ngồi thẳng lên.

“Vân công tử, mời nói.”

Sư gia rất nhanh lấy địa đồ ruộng đất ra trải trên bàn. Đèn dầu trong công đường được thắp thêm hai ngọn. Dưới ánh đèn vàng, Vân Thanh Sơn dùng bút khoanh lại gò Đá Trắng, nhánh nước phía bắc, ruộng Đông Hà, ruộng Tây Hà và mấy khu đất hoang quanh đó.

Hắn nói không nhanh.

Mỗi câu đều rõ ràng.

Đá đào lên không đổ bỏ, mà phân làm ba phần.

Một phần dùng kè bờ kênh.

Một phần bán cho hiệu đá trong huyện.

Một phần trình lên châu phủ xin dùng cho đường quan và đoạn đê phía nam.

Hiệu đá ứng trước công cụ, xe kéo và thợ phá đá. Huyện nha lập khế, tính giá đá thấp hơn đá chở xa nhưng không để tư thương ép dân.

Ruộng hưởng nước góp theo diện tích. Nhà ít ruộng góp sức. Nhà nhiều ruộng góp thóc. Nhà không góp thì sau này nộp phí tu sửa hằng năm cao hơn.

Mọi khoản thu chi dán trước cổng huyện nha.

Đông Hà và Tây Hà cùng cử người giữ sổ.

Huyện nha đóng ấn.

Mỗi mười ngày kiểm một lần.

Tri huyện ban đầu còn tựa lưng nghe.

Nghe được một nửa, ông đã ngồi thẳng.

Nghe đến cuối, ông quay sang sư gia:

“Lấy sổ điền sản của hai thôn tới.”

Sư gia lập tức chạy vào trong.

Không bao lâu sau, một chồng sổ được đặt lên bàn.

Tri huyện lật từng trang, sắc mặt dần trở nên cổ quái.

Lý Trường Phong nhìn ông:

“Sao vậy?”

Tri huyện chỉ vào địa đồ:

“Hơn nửa số ruộng được hưởng lợi từ con kênh này không nằm trong tay dân nghèo hai thôn.”

Lý Trường Phong cau mày:

“Nằm trong tay ai?”

“Bảy hộ khá giả trong huyện.”

Sư gia nhỏ giọng bổ sung:

“Trong đó có ba nhà hôm qua nghe nói Lý đình trưởng sắp đến xin quyên góp, đã đóng cửa từ giữa trưa.”

Lý Trường Phong ngẩn ra:

“Ta còn chưa đi mà.”

Sư gia nói:

“Vì vậy mới gọi là phòng xa.”

Tri huyện ho khan:

“Bảy nhà này có ruộng nhiều nhất. Kênh đào xong, họ được lợi nhiều nhất. Nếu chiếu theo lời Vân công tử, quả thực nên để họ góp nhiều nhất.”

Lý Trường Phong vỗ bàn:

“Vậy ngày mai ta đến từng nhà.”

Vân Thanh Sơn lập tức nói:

“Không cần.”

“Không cần?”

“Đừng đến nhà họ.”

“Vì sao?”

“Ngài đến nhà họ, là ngài đi xin.”

Vân Thanh Sơn nhìn Tri huyện:

“Xin đại nhân mời họ đến huyện nha.”

Tri huyện nhíu mày:

“Bản quan mời họ đến, chẳng phải là ép quyên?”

“Không ép quyên.”

“Vậy mời làm gì?”

“Cho họ chọn.”

Tri huyện hơi nghiêng người về phía trước:

“Chọn thế nào?”

Vân Thanh Sơn đặt bút xuống bàn:

“Một là cùng góp thóc, công cụ, xe kéo hoặc bạc để đào kênh. Tên họ được ghi vào công bảng, sau này phí tu sửa giảm một nửa.”

“Hai là không góp gì cả. Kênh hoàn thành, ruộng của họ vẫn được lấy nước theo thủy ước, nhưng mỗi năm phải nộp phí tu sửa đầy đủ.”

“Ba là nếu họ không muốn dùng nước từ kênh, có thể ghi rõ vào sổ. Sau này ruộng họ tự lo nguồn nước, không được tranh với hai thôn.”

Công đường yên tĩnh một lát.

Sư gia cầm bút, đôi mắt sáng lên.

Tri huyện vuốt râu:

“Hay.”

Lý Trường Phong cũng gật đầu:

“Rất hay.”

Sau đó ông hỏi:

“Nhưng nếu họ ngoài miệng chọn góp, sau lưng lại kéo dài không đưa thóc thì sao?”

Vân Thanh Sơn nói:

“Cho thời hạn.”

“Nếu quá hạn?”

“Ghi tên lên bảng công.”

Lý Trường Phong hơi thất vọng:

“Chỉ vậy?”

Vân Thanh Sơn nhìn ông:

“Đối với người nghèo, mất tiền đáng sợ. Đối với người giàu, mất mặt đôi khi còn đáng sợ hơn.”

Tri huyện vỗ bàn:

“Đúng!”

Ông làm quan nhiều năm, rất hiểu đạo lý này.

Có những phú hộ tiếc một đấu thóc như tiếc máu trong tim, nhưng nếu tên mình bị dán ngoài cổng huyện nha dưới dòng “hưởng nước mà không góp công”, đêm đó nhất định ngủ không yên.

Lý Trường Phong suy nghĩ một lát:

“Nếu họ vẫn không sợ mất mặt?”

Vân Thanh Sơn đáp:

“Vậy chứng minh nhà đó mặt rất dày, sau này khi thu phí tu sửa, xin đại nhân tính dày hơn một chút.”

Tri huyện không nhịn được nữa, bật cười thành tiếng.

Sư gia cũng cúi đầu cười theo.

Đêm ấy, huyện nha Thanh Hà sáng đèn đến rất khuya.

Lý Trường Phong phụ trách nói chuyện dân hai thôn.

Tri huyện phụ trách văn thư và đóng ấn.

Sư gia phụ trách ghi chép.

Sáng hôm sau, bảy hộ có nhiều ruộng nhất được mời đến huyện nha.

Nói là mời, nhưng nha dịch đến tận cửa, lời lẽ rất khách khí, thái độ rất kiên quyết.

Bảy vị gia chủ lần lượt bước vào công đường.

Người thứ nhất bụng lớn, vừa đi vừa thở.

Người thứ hai gầy như cây sào, ánh mắt xoay chuyển rất nhanh.

Người thứ ba mặc áo lụa mới, tay áo rộng đến mức có thể giấu được nửa đấu thóc.

Bốn người còn lại cũng mỗi người một vẻ, nhưng khi nhìn thấy địa đồ trải trên bàn và danh sách ruộng đất bên cạnh, vẻ mặt đều có chung một điểm.

Không vui lắm.

Tri huyện ngồi trên cao, ôn hòa nói:

“Chư vị đều là hương thân Thanh Hà. Hôm nay mời đến là để bàn chuyện đào kênh cứu hạn.”

Gia chủ bụng lớn lập tức chắp tay:

“Đại nhân yêu dân như con, chúng tôi kính phục. Chỉ là nhà ta năm nay cũng khó khăn, kho thóc không còn bao nhiêu…”

Lý Trường Phong đứng bên cạnh cười:

“Trương viên ngoại, hôm qua ta đi ngang nhà ông, thấy người làm vừa khiêng thêm bốn chum rượu vào kho.”

Trương viên ngoại mặt không đổi sắc:

“Đó là rượu thuốc.”

“Bốn chum?”

“Nhà nhiều người bệnh.”

Vân Thanh Sơn bình tĩnh hỏi:

“Bệnh gì?”

Trương viên ngoại nhìn thiếu niên áo xanh xa lạ, nhất thời chưa nghĩ ra.

Lý Trường Phong tốt bụng nhắc:

“Bệnh tiếc thóc.”

Trên công đường có vài tiếng ho khan.

Tri huyện cầm chén trà lên che miệng.

Vân Thanh Sơn không để mọi người vòng vo lâu. Hắn đem ba lựa chọn nói lại một lần.

Góp trước, giảm phí bảo trì về sau.

Không góp, vẫn được dùng nước nhưng nộp đủ phí.

Không dùng kênh, tự ghi vào sổ, sau này không được tranh nước.

Vừa nghe đến chuyện tên họ sẽ được dán lên công bảng, bảy vị gia chủ đồng loạt nhìn nhau.

Gia chủ gầy như cây sào hỏi:

“Công bảng ấy dán ở đâu?”

Sư gia đáp:

“Cổng huyện nha, chợ Đông, bến sông và trước miếu Thổ địa.”

Gia chủ kia im lặng.

Đó đều là nơi đông người nhất huyện.

Đặc biệt là miếu Thổ địa.

Các bà lão trong huyện đi ngang qua đó một ngày ba lượt, mắt còn tinh hơn nha dịch. Một khi tên ai bị dán lên, chưa đến chiều cả huyện đều biết.

Trương viên ngoại cân nhắc một lát rồi hỏi:

“Nếu góp, tên cũng dán?”

“Có.” Vân Thanh Sơn nói. “Dán ở bảng công đức.”

“Chữ lớn hay nhỏ?”

“Căn theo mức góp.”

Trương viên ngoại lập tức ngồi thẳng:

“Nhà ta góp hai mươi thúng thóc.”

Gia chủ áo lụa bên cạnh liếc ông một cái:

“Hai mươi thúng mà cũng đòi chữ lớn?”

Trương viên ngoại hừ lạnh:

“Vậy ngươi góp bao nhiêu?”

“Ba mươi thúng.”

“Ta góp ba mươi lăm.”

“Bốn mươi.”

“Bốn mươi hai.”

Lý Trường Phong đứng bên cạnh nhìn hai người, nhỏ giọng hỏi Vân Thanh Sơn:

“Bọn họ đang làm việc thiện sao?”

Vân Thanh Sơn đáp:

“Không. Đang tranh cỡ chữ.”

“Cỡ chữ đáng tiền vậy à?”

“Đối với người có tiền, đôi khi rất đáng.”

Một nhà có xưởng rèn đứng ra nói:

“Nhà ta góp đục và búa. Công cụ hỏng trong lúc đào kênh, cứ đưa đến xưởng ta sửa, không lấy tiền công.”

Lý Trường Phong lập tức chắp tay:

“Đa tạ.”

Chủ xưởng rèn ho khan:

“Có thể ghi rõ là xưởng rèn Lưu gia sửa miễn phí không?”

Sư gia gật đầu:

“Được.”

“Chữ lớn bằng Trương viên ngoại không?”

Trương viên ngoại lập tức nói:

“Dựa vào đâu?”

Chủ xưởng rèn đáp:

“Không có búa của ta, thóc của ông tự đào đá sao?”

Trương viên ngoại nghẹn họng.

Nhà thứ năm có xe bò, liền góp mười chiếc xe kéo đá.

Nhà thứ sáu góp dây thừng, sọt tre và vải bố che lương.

Nhà thứ bảy im lặng từ đầu đến cuối, thấy mọi người đều đã góp, cuối cùng chậm rãi nói:

“Nhà ta góp bạc.”

Cả công đường nhìn sang.

Ông ta ho khan:

“Mười lượng.”

Không khí yên tĩnh.

Trương viên ngoại cười lạnh:

“Ruộng nhà ngươi hưởng nước nhiều nhất, góp mười lượng?”

Người kia lập tức nói:

“Vậy hai mươi.”

Chủ xưởng rèn nhìn ông ta:

“Ta chỉ cần sửa hỏng mười cái búa đã hơn số ấy.”

“Ba mươi.”

Lý Trường Phong chậm rãi hỏi:

“Có cần ta ra ngoài nói với dân hai thôn rằng Chu lão gia góp ba mươi lượng không?”

Chu lão gia lập tức ngồi thẳng:

“Năm mươi.”

Vân Thanh Sơn mỉm cười:

“Chu lão gia quả nhiên hào sảng.”

Chu lão gia nhìn nụ cười của thiếu niên áo xanh, không hiểu sao lại cảm thấy mình vừa thoát khỏi một kiếp nạn.

Đến trưa, danh sách góp sức đã được ghi xong.

Bảy hộ không những không ai từ chối, thậm chí còn bắt đầu tranh xem tên mình đứng trước hay sau.

Sư gia hỏi:

“Đại nhân, tên trên bảng công đức sắp thế nào?”

Tri huyện suy nghĩ.

Theo số tiền thì người góp bạc đứng đầu.

Theo lương thực thì Trương viên ngoại không phục.

Theo công cụ thì chủ xưởng rèn không phục.

Theo xe bò thì nhà góp xe cũng không phục.

Cuối cùng, Vân Thanh Sơn nói:

“Sắp theo nét chữ.”

Mọi người đồng loạt nhìn hắn.

Vân Thanh Sơn bình thản giải thích:

“Chữ ai viết đẹp hơn, tên người đó đặt trước.”

Bảy vị gia chủ lập tức ngây ra.

Một lát sau, Trương viên ngoại nhỏ giọng hỏi:

“Có được mời người viết thay không?”

“Không được.”

Công đường bỗng nhiên yên tĩnh đến kỳ lạ.

Lý Trường Phong quay mặt đi.

Ông sợ mình cười quá rõ.

Cuối cùng, Tri huyện quyết định sắp tên theo thứ tự thôn xóm và loại vật góp, tránh để bảy vị hương thân vì cỡ chữ mà đánh nhau ngay trước mặt quan phụ mẫu.

Buổi chiều, hai hiệu đá lớn nhất huyện cũng được mời đến.

So với phú hộ, người của hiệu đá thực tế hơn nhiều.

Bọn họ nghe nói gò Đá Trắng có đá tốt, lập tức cử thợ tới xem. Chưa đầy nửa canh giờ sau đã quay lại, hai mắt sáng như nhìn thấy bạc rơi đầy đường.

Hiệu đá đồng ý ứng trước búa, đục, dây kéo, xe và ba thợ phá đá lành nghề.

Đổi lại, đá đào ra sau khi trừ phần kè kênh, họ được quyền mua trước theo giá đã định.

Tri huyện lập khế.

Sư gia ghi sổ.

Lý Trường Phong đứng cạnh nhìn, càng nhìn càng cảm thấy kỳ diệu.

Sáng hôm qua, gò Đá Trắng vẫn là con quái vật chắn đường sống của hai thôn.

Tối hôm qua, nó là lý do ông suýt đem ngọc tổ truyền đi cầm.

Đến hôm nay, nó bỗng biến thành vật liệu kè đê, đá sửa đường, công cụ đào kênh và mấy chục thúng thóc.

Lý Trường Phong cúi đầu nhìn miếng ngọc bên hông.

Miếng ngọc vẫn là miếng ngọc ấy.

Ba mươi mốt lượng.

Không hơn.

Nhưng nhờ nó không đáng một trăm lượng, ông mới gặp Vân Thanh Sơn.

Nghĩ vậy, Lý Trường Phong bỗng cảm thấy miếng ngọc này cũng không tính là mất mặt.

Ít nhất nó rất biết tự lượng sức mình.

Đến cuối ngày, công bảng được dán trước cổng huyện nha.

Dân Đông Hà và Tây Hà kéo đến xem đông nghịt.

Đại Lực nhìn bảng công, gãi đầu:

“Vậy là chúng ta không cần để Phong ca bán nhà nữa?”

Lão Trương đáp:

“Nhà hắn vốn cũng không bán được.”

Lý Trường Phong đứng ngay phía sau:

“Lão Trương.”

Lão Trương lập tức ho khan:

“Ý ta là, nhà của Đình trưởng quý ở tình nghĩa, không thể dùng bạc mà định giá.”

Đại Lực nhỏ giọng:

“Vậy dùng gì định giá?”

Lão Trương đáp:

“Mười hai cái chậu và một cái nồi.”

Đám dân quanh đó cười vang.

Lý Trường Phong thở dài, nhưng cũng cười theo.

Nụ cười ấy rất nhẹ.

Nhẹ hơn lúc ông hứa đem ngọc đi cầm.

Cũng thoải mái hơn rất nhiều.

Ba ngày sau, việc đào kênh chính thức vào guồng.

Thợ phá đá của hiệu đá đến trước, dạy dân hai thôn cách đục khe, đóng chêm, kéo đá. Xưởng rèn Lưu gia dựng một lò nhỏ ngay dưới chân gò, búa đục hỏng được sửa tại chỗ. Xe bò qua lại suốt ngày, kéo đá tốt ra bãi tập kết.

Người Đông Hà và Tây Hà vẫn cãi nhau.

Nhưng nội dung đã thay đổi.

“Đông Hà hôm nay phá được năm khối!”

“Tây Hà kéo được bảy xe!”

“Khối đá nhà ngươi bé bằng cái bánh hấp, cũng tính là khối?”

“Xe nhà ngươi chở toàn đá vụn, cũng dám tính là xe?”

Cãi thì cãi, tay vẫn làm.

Đến giờ ăn, nồi cháo không còn đặt như biên giới hai nước nữa. Đại Lực múc trước một bát, đưa cho lão Trương.

Lão Trương nhìn gã đầy nghi ngờ:

“Ngươi múc phần loãng cho ta?”

Đại Lực tức giận:

“Cháo này có phần đặc sao?”

Lão Trương cúi đầu nhìn bát cháo.

Quả thật không có.

Ông miễn cưỡng nhận lấy.

“Lần này coi như ngươi có lòng.”

Đại Lực lẩm bẩm:

“Còn khó hầu hơn con trâu nhà ta.”

“Ngươi nói gì?”

“Ta nói lão ăn nhiều vào, có sức mà mắng ta.”

Lão Trương hừ một tiếng, nhưng khóe miệng lại cong lên.

Chiều hôm ấy, Lý Trường Phong đứng trên bờ cao nhìn xuống.

Dưới chân gò, tiếng búa đục vang lên từng nhịp. Người kéo xe hô hào. Người khiêng sọt đá mồ hôi ướt lưng áo. Trẻ con hai thôn chạy theo xe bò, bị người lớn mắng rồi lại cười hì hì chạy xa.

Dòng kênh còn rất ngắn.

Nhưng nó đã không còn là một lời hứa trống rỗng.

Vân Thanh Sơn đứng bên cạnh ông, tay áo xanh nhẹ lay trong gió.

Lý Trường Phong đột nhiên nói:

“Vân tiểu huynh đệ.”

“Vâng?”

“Ngươi đúng là rất biết biến đá thành tiền.”

“Không phải ta biến.”

Vân Thanh Sơn nhìn gò Đá Trắng.

“Tiền vốn đã nằm ở đó. Chỉ là trước đây mọi người chỉ thấy nó chắn đường.”

Lý Trường Phong suy nghĩ một lát rồi gật đầu:

“Có lý.”

Ông lại hỏi:

“Vậy ngươi nhìn ta, có thấy tiền không?”

Vân Thanh Sơn nghiêm túc nhìn ông từ đầu đến chân.

“Có.”

Hai mắt Lý Trường Phong sáng lên:

“Thật sao?”

“Có nợ.”

“…”

Vân Thanh Sơn bổ sung:

“Rất nhiều.”

Lý Trường Phong cảm thấy thiếu niên này thông minh thì thông minh thật, nhưng miệng hơi độc.

Hơn nữa độc rất chuẩn.

Chuẩn đến mức người ta không tiện phản bác.

Tối hôm đó, Lý Trường Phong kéo Vân Thanh Sơn đến quán rượu cũ.

Vừa bước vào cửa, chưởng quầy đã ngẩng đầu nhìn ông, rồi lập tức chỉ lên tấm bảng gỗ treo sau quầy.

Trên đó viết rất rõ:

Lý Trường Phong không được ghi nợ.

Lý Trường Phong nhìn một lát, quay sang Vân Thanh Sơn:

“Hôm nay hắn trả.”

Chưởng quầy nhìn bộ trường sam xanh trúc sạch sẽ của Vân Thanh Sơn, sắc mặt lập tức dịu xuống:

“Mời vào.”

Vân Thanh Sơn hỏi:

“Ngài không hỏi ta là ai?”

Chưởng quầy bình thản đáp:

“Người lần đầu đi cùng Lý Trường Phong vào quán, trước sau gì cũng phải trả tiền. Hỏi tên làm gì cho mất công?”

Trong quán lập tức vang lên một trận cười.

Gã đồ tể vỗ bàn:

“Phong ca, nghe nói hôm nay huynh không bán được nhà?”

Lý Trường Phong ngồi xuống:

“Là không cần bán.”

“Khác nhau sao?”

“Khác rất nhiều.”

Chưởng quầy đặt rượu lên bàn:

“Một cái là nhà không ai mua. Một cái là nhà chưa cần bán.”

Cả quán lại cười ầm.

Lý Trường Phong quyết định không nói chuyện với những người không biết thưởng thức giá trị nhà cũ.

Ông rót cho Vân Thanh Sơn một chén rượu.

“Ta còn chưa hỏi. Ngươi định ở Thanh Hà bao lâu?”

Vân Thanh Sơn nâng chén rượu lên.

“Có lẽ sẽ ở lại đến khi con kênh đào xong.”

Lý Trường Phong bật cười:

“Tốt. Ba tháng tới, tiền rượu của ta có chỗ trông cậy rồi.”

Vân Thanh Sơn đặt chén xuống:

“Ta đổi ý vẫn còn kịp không?”

“Muộn rồi.”

“Ta còn chưa uống.”

“Chén đã rót, duyên đã định.”

Chưởng quầy đứng bên cạnh lạnh lùng nói:

“Tiền cũng đã tính vào bàn này.”

Vân Thanh Sơn im lặng nhìn chén rượu.

Lần đầu tiên trong đời, hắn cảm thấy mình có thể đã tính sai một chuyện.

Ở lại Thanh Hà, chưa chắc chỉ cần giúp Lý Trường Phong giữ tiền.

Có lẽ còn phải giúp chính mình giữ túi tiền.

Ngoài quán, gió đêm thổi qua con phố nhỏ.

Tiếng cười trong quán rượu hòa cùng tiếng búa đục đá nơi xa, vang lên ấm áp giữa huyện Thanh Hà nghèo khó.

Con kênh đầu tiên của Thanh Hà bắt đầu được mở ra như thế.

Ngày ấy, khi nước vừa chảy qua gò Đá Trắng, người Đông Hà và Tây Hà lại cãi nhau xem dòng nước chạm vào ruộng thôn nào trước.

Không ai thật sự để bụng.

Bởi sau ba tháng cùng đào đá, cùng ăn cháo, cùng mắng Lý Trường Phong, bọn họ đã quen với việc vừa cãi vừa làm.

Rất nhiều năm sau, khi Đại Lực trở lại bên bờ kênh này, nước vẫn chảy như ngày cũ.

Chỉ là những người còn ngồi bên bờ cãi nhau với ông, đã không còn nữa.