FYD App
Miếng ngọc ba mươi mốt lượng
Sáng hôm sau, người của Đông Hà và Tây Hà bắt đầu chia nước.
Nói là chia nước nghe thật văn minh.
Nhìn qua thì ai nấy đều đứng đắn.
Lời lẽ nhã nhặn.
Nhưng chỉ cần lệch một ly thôi là búa tạ, cuốc xẻng bay ra không kịp trở tay.
Một cây cọc gỗ được đóng xuống giữa dòng, trên thân khắc từng vạch nước rõ ràng. Ban ngày, Đông Hà giữ nước tưới ruộng cao. Đến cuối giờ Thân, cửa đập phải mở để nước chảy xuống Tây Hà.
Nghe thì rất hợp lý.
Chỉ là người đứng hai bên nhìn nhau thì không hợp lý lắm.
Lý Trường Phong đứng bên bờ, tay chống hông, mặt nghiêm như đang xử án:
“Người canh đập không được mang theo gậy.”
Đại Lực của Đông Hà lập tức giơ tay như học trò:
“Vậy mang cuốc được không?”
“Không.”
“Xẻng?”
“Không.”
“Đòn gánh?”
“Cũng không.”
Đại Lực suy nghĩ rất lâu, vẻ mặt như đang cân nhắc đại sự quốc gia:
“Vậy nếu gặp rắn thì sao?”
Lão Trương của Tây Hà đứng bên cạnh cười lạnh:
“Ngươi sợ rắn, hay sợ người Tây Hà chúng ta?”
Đại Lực lập tức trừng mắt:
“Ta sợ ngươi cắn hơn.”
Lão Trương giận đến mức râu bạc run như gió thổi:
“Ngươi nói cái gì…!”
Đại Lực nhìn ông từ đầu đến chân, rất nghiêm túc đánh giá:
“Không giống rắn.”
Lão Trương vừa định nguôi giận thì nghe tiếp:
“Giống con rắn già.”
Không khí lập tức căng như dây đàn.
Hai bên lại suýt nữa lao vào nhau, chỉ thiếu mỗi tiếng “đánh!” là đủ thành hội làng.
Lý Trường Phong giơ tay đè trán.
Mới sáng sớm, ông đã bắt đầu nhớ quán rượu.
Cuối cùng, ông phải tự mình đứng giữa hai nhóm người, chỉ vào cây cọc nước, giọng như đọc di chúc:
“Nghe cho rõ đây. Hai người Đông Hà, hai người Tây Hà cùng canh. Ai tự ý chặn nước, phạt. Ai tự ý tháo nước, phạt. Ai cãi nhau quá ba câu, cũng phạt.”
Lão Trương lập tức hỏi, giọng đầy cảnh giác:
“Phạt thế nào?”
“Ra đào gò Đá Trắng thêm một ngày.”
Cả hai bên lập tức im lặng.
Im nhanh đến mức khiến người ta nghi ngờ vừa rồi họ có thật sự muốn đánh nhau không.
Đại Lực lẩm bẩm:
“Vậy còn không bằng bị đánh một trận.”
Lý Trường Phong quay sang nhìn gã.
Ánh mắt rất hiền.
Hiền đến mức Đại Lực lập tức ngẩng đầu nhìn trời:
“Hôm nay nắng đẹp quá.”
Sau khi mọi chuyện tạm ổn, Lý Trường Phong vẫn không yên tâm. Trước khi đi, ông lại bổ sung, lần này nói chậm từng chữ như sợ có người giả vờ không nghe:
“Không được mang gậy.”
“Không được mang dao.”
“Không được mang cuốc.”
“Không được mang đá trong tay áo.”
Câu cuối cùng vừa nói ra, lão Trương đang lén nhét một hòn đá vào tay áo bỗng khựng lại, động tác dừng giữa không trung, trông rất giống bị bắt quả tang đang ăn vụng.
Ông lão ho khan một tiếng, thong thả lấy hòn đá ra, đặt xuống đất, mặt không đổi sắc:
“Ta chỉ thấy nó tròn đẹp, muốn mang về kê chân giường.”
Lý Trường Phong nhìn hòn đá to bằng nửa cái bát, rồi nhìn lại lão Trương:
“Giường nhà lão thiếu một chân lớn vậy sao?”
Lão Trương đáp rất nghiêm túc, như đang bàn chuyện quốc kế dân sinh:
“Nhà nghèo, chuyện gì cũng có thể xảy ra.”
Lý Trường Phong nhìn ông một lúc, cuối cùng quyết định không tranh luận nữa.
Ông cảm thấy nếu tiếp tục nói chuyện, có khi mình sẽ bị thuyết phục thật.
May mà ngày đầu tiên chia nước trôi qua không quá tệ.
Ít nhất là chưa có ai bị ném xuống sông.
Đông Hà giữ đúng phần nước. Đến giờ mở đập, Đại Lực còn tự mình lội xuống nhấc tấm chắn. Người Tây Hà đứng phía dưới nhìn dòng nước chảy về ruộng, nét mặt cuối cùng cũng bớt căng như dây cung.
Chỉ có một chuyện nhỏ xảy ra.
Đại Lực mở đập chậm hơn dự định chừng nửa nén nhang.
Lão Trương lập tức chống gậy lao tới nhanh đến mức mấy thanh niên Tây Hà cũng không đuổi kịp. Ông chỉ vào mặt Đại Lực, hỏi có phải Đông Hà muốn nuốt lời hay không.
Đại Lực giận đến đỏ mặt:
“Ta đã nói rồi! Con trâu nhà ta vừa giẫm sập bờ ruộng, ta phải đi kéo nó lên!”
Lão Trương hừ lạnh:
“Trâu của ngươi rất biết chọn thời điểm.”
“Lão có ý gì?”
“Ý ta là nó rất giống chủ.”
Đại Lực suýt nữa nhảy xuống nước đánh nhau.
Cuối cùng, Lý Trường Phong phải tới tận nơi xem con trâu.
Con trâu quả nhiên vẫn mắc nửa thân dưới trong bùn, trên mặt mang vẻ vô tội hiếm thấy. Nó vừa nhai cỏ vừa nhìn đám người vây quanh, ánh mắt bình thản như thể muốn nói: các ngươi tranh nước của các ngươi, kéo ta vào làm gì?
Lão Trương nhìn con trâu hồi lâu, cuối cùng miễn cưỡng gật đầu:
“Lần này coi như con trâu làm chứng cho ngươi.”
Đại Lực tức đến bật cười:
“Ta ở cạnh ngươi ba mươi năm, còn không đáng tin bằng một con trâu sao?”
Lão Trương đáp rất nghiêm túc:
“Con trâu không biết nói dối.”
Đại Lực nghẹn họng.
Lý Trường Phong kéo gã lại:
“Đừng so đo. Ít nhất lão ấy không nói ngươi không bằng con trâu.”
Đại Lực vừa nghe xong, sắc mặt càng khó coi hơn.
“Phong ca, huynh đang an ủi ta thật sao?”
“Đang cố.”
“Vậy huynh đừng cố nữa.”
Đến chiều, Lý Trường Phong trở về với một vết bùn hình móng trâu ngay giữa ngực áo.
Gã đồ tể ở quán rượu nhìn thấy liền kinh ngạc:
“Phong ca, hôm nay huynh đánh nhau với trâu à?”
Lý Trường Phong ngồi xuống, rót một chén nước uống thay rượu:
“Không. Ta làm chứng cho trâu.”
Gã đồ tể càng kính nể hơn:
“Thanh Hà này quả nhiên chuyện gì cũng phải tìm huynh.”
Chưởng quầy đứng sau quầy lập tức tiếp lời:
“Vậy lần sau con gà nhà ta không chịu đẻ trứng, cũng mời Lý đình trưởng đến khuyên bảo một phen.”
Lý Trường Phong nhìn ông ta:
“Ta chỉ quản dân.”
“Con gà ấy ăn thóc nhà dân, cũng xem như liên quan đến dân sinh.”
Cả quán cười ầm lên.
Nhưng cười thì cười, việc chính vẫn còn đó.
Dòng nước trước mắt có thể tạm thời chia nhau chống đỡ. Còn con kênh xuyên qua gò Đá Trắng mới là chuyện khó thật sự.
Ngay hôm ấy, hơn trăm người Đông Hà và Tây Hà đã mang cuốc xẻng tới chân gò.
Hai bên vừa mới không đánh nhau nữa, lòng hiếu thắng đã lập tức chuyển sang chuyện khác.
Đông Hà nói người thôn mình quen làm ruộng cao, chân khỏe, tay chắc.
Tây Hà nói người thôn mình từng vá đê trong mưa bão, đào đất như ăn cơm.
Lý Trường Phong nghe hai bên tranh nhau khí thế, cảm thấy rất vui mừng.
Nửa ngày sau, ông không còn vui mừng nữa.
Gò Đá Trắng không hổ là gò Đá Trắng.
Bên trên chỉ phủ một lớp đất mỏng chưa đầy gang tay. Đào qua lớp đất ấy, bên dưới liền lộ ra tầng đá cứng đến mức cuốc bổ xuống tóe lửa, người cầm cuốc tê cả cánh tay, còn mặt đá chỉ để lại một vết xước mỏng như vết mèo cào.
Đào từ sáng đến trưa, hai thôn cộng lại tiến được chưa đầy ba thước.
Gò đá vẫn đứng đó.
Trầm ổn.
Kiêu ngạo.
Rất giống một vị lão quan đã về hưu, nghe ai mắng cũng không động đậy.
Đến cuối ngày, tình hình càng thê thảm.
Mười hai chiếc cuốc đã mẻ.
Bốn chiếc đục gãy đầu.
Hai người trật cổ tay.
Một người Đông Hà bổ cuốc quá mạnh, cán cuốc bật ngược lại đập vào mũi, ngồi bên đường ôm mặt suy nghĩ nhân sinh.
Nghiêm trọng nhất là một cây búa tuột cán, bay thẳng xuống mương, suýt nữa đưa lão Trương về gặp tổ tiên.
Lão Trương ngã ngồi xuống đất, mặt trắng bệch.
Đại Lực vội chạy tới:
“Lão không sao chứ?”
Lão Trương run run chỉ xuống mương:
“Vừa rồi ta hình như nhìn thấy bà nhà ta.”
Đại Lực sửng sốt:
“Bà ấy mất lâu chưa?”
“Bà ấy còn sống.”
“Vậy lão nhìn thấy bà ấy có gì lạ?”
“Bởi vì trước lúc cây búa bay tới, ta nghe đúng giọng bà ấy gọi ta là đồ già vô dụng.”
Đám người đang đào kênh cười đến mức không còn sức cầm cuốc.
Lão Trương ngồi dưới đất, vừa tức vừa sợ:
“Cười cái gì? Các ngươi chưa cưới vợ nên không hiểu.
Có những người dù không ở trước mặt, giọng nói vẫn có thể đuổi theo ngươi đến tận hoàng tuyền.”
Tiếng cười càng lớn hơn.
Lý Trường Phong cũng cười.
Nhưng khi ông quay đầu nhìn đống công cụ hư hỏng chất dưới chân gò, nụ cười trên mặt dần nhạt xuống.
Đá quá cứng.
Cuốc xẻng bình thường không làm được.
Muốn đào xuyên qua gò Đá Trắng, cần búa tốt, đục tốt, xe kéo, dây thừng, thợ biết phá đá. Quan trọng hơn là trong ba tháng đào kênh, phu phen phải có cái ăn.
Người dân có thể bỏ sức, nhưng không thể nhịn đói mà đào đá.
Lý Trường Phong đã hứa trước công đường.
Kho huyện bỏ năm mươi lượng nuôi phu.
Ông bỏ một trăm lượng mua công cụ.
Đại phú hộ trong huyện sẽ được ông “xin” thêm một ít.
Lúc nói ra, khí thế rất hăng.
Bây giờ nghĩ lại, chữ “xin” ấy hơi nặng.
Còn chữ “một trăm lượng” kia càng nặng hơn.
Tối hôm đó, Lý Trường Phong đem miếng ngọc của cha đến tiệm cầm đồ lớn nhất huyện.
Tiệm cầm đồ họ Phùng nằm ở phố Đông, cửa gỗ sơn đen, bảng hiệu treo cao, hai bên cửa còn có hai con sư tử đá nhỏ. Hai con sư tử ấy gầy hơn sư tử nhà phú hộ một chút, nhưng ánh mắt rất hung, giống hệt chủ tiệm.
Phùng chưởng quầy là một lão nhân gầy gò, râu dê, mắt nhỏ, nổi tiếng ở Thanh Hà là người có thể nhìn ra vết nứt trên cái bát từ cách xa ba bước, cũng có thể nhìn ra người đến cầm đồ đang thật sự cần tiền từ cách xa mười bước.
Thấy Lý Trường Phong bước vào, Phùng chưởng quầy không ngạc nhiên.
“Lý đình trưởng, hôm nay cầm gì?”
Lý Trường Phong đặt miếng ngọc lên quầy:
“Cầm vật tổ truyền.”
Phùng chưởng quầy nhìn miếng ngọc, lại nhìn ông:
“Nhà ngươi còn có vật tổ truyền?”
Lý Trường Phong nghiêm mặt:
“Phùng lão, ông nói vậy rất tổn thương tình cảm.”
“Ta chỉ hơi kinh ngạc. Ta vẫn tưởng nhà ngươi chỉ truyền lại nợ rượu.”
Lý Trường Phong im lặng một lát:
“Đó là ta tự gây dựng, không liên quan tổ tiên.”
Phùng chưởng quầy cầm miếng ngọc lên.
Lão đặt dưới đèn soi bên trái, ngắm bên phải, dùng móng tay gõ nhẹ, lại đưa lên sát mắt nhìn. Sau đó lão lấy khăn lau một lần, rồi lại soi thêm một lần nữa.
Lý Trường Phong đứng đối diện, rất kiên nhẫn.
Một khắc trôi qua.
Hai khắc trôi qua.
Phùng chưởng quầy vẫn còn xem.
Lý Trường Phong cuối cùng nhịn không được:
“Phùng lão, ông đang xem ngọc hay đang chờ nó nở hoa?”
Phùng chưởng quầy bình thản đáp:
“Nếu nó nở hoa, ta có thể thêm cho ngươi hai lượng.”
Lý Trường Phong lập tức cúi đầu nhìn miếng ngọc.
Miếng ngọc rất yên tĩnh.
Không hề có chí tiến thủ.
Một lúc lâu sau, Phùng chưởng quầy đặt miếng ngọc xuống.
“Ba mươi lượng.”
Lý Trường Phong tưởng mình nghe nhầm.
“Bao nhiêu?”
“Ba mươi.”
“Phùng lão, ông nói thiếu một chữ rồi.”
“Không thiếu.”
“Thiếu chữ ‘một trăm’.”
“Ta nói ba mươi.”
“Đây là ngọc mỡ cừu.”
“Đúng.”
“Thượng hạng.”
“Không tính là kém.”
“Cha ta nói nó đáng ít nhất một trăm lượng.”
Phùng chưởng quầy vuốt râu:
“Cha ngươi rất thương ngươi.”
Lý Trường Phong cau mày:
“Ý gì?”
“Ý là ông ấy không nỡ để ngươi biết sự thật quá sớm.”
“…”
Phùng chưởng quầy chỉ vào góc ngọc:
“Ngọc này nhỏ. Góc đã mòn. Phía sau còn có một vết rạn.”
Lý Trường Phong cầm lên nhìn:
“Vết rạn nào?”
“Đây.”
Phùng chưởng quầy chỉ cho ông xem một đường rất nhỏ gần lỗ xỏ dây.
Lý Trường Phong nhìn đường rạn ấy, bỗng nhớ lại năm mười tuổi, mình trèo cây bắt ve, bị cha phát hiện, đuổi đánh ba vòng quanh sân. Lúc chạy đến giếng cạn, ông trượt chân ngã xuống, miếng ngọc hình như cũng đập vào thành giếng một cái.
Khi ấy cha ông đau lòng ôm ông lên.
Sau đó đánh thêm một trận.
Bởi vì người có thể lành, ngọc thì khó.
Lý Trường Phong im lặng cất ký ức ấy đi.
“Có thể thêm chút nào không?”
“Ba mươi mốt lượng.”
“Chỉ thêm một lượng?”
“Ta đã rất nể mặt Lý đình trưởng.”
“Ông nể mặt ta kiểu gì mà mặt ta đau thế?”
Phùng chưởng quầy đẩy miếng ngọc về phía ông:
“Đối với ngươi, nó là di vật của cha. Đối với ta, nó là một miếng ngọc nhỏ có vết rạn. Tình cảm không tính vào giá cầm đồ.”
Lý Trường Phong chống hai tay lên quầy:
“Phùng lão, chuyện đào kênh này liên quan đến sinh kế hai thôn. Ông cho ta vay một trăm lượng. Ba tháng sau ta nhất định trả.”
“Lấy gì bảo đảm?”
“Danh dự của ta.”
“Không nhận.”
“Chức Đình trưởng của ta?”
“Không đáng tiền.”
“Căn nhà của ta?”
Phùng chưởng quầy ngẩng đầu nhìn ông:
“Có phải căn nhà mái phía tây sắp sập không?”
“Sắp sập, nghĩa là vẫn chưa sập.”
“Nghe nói mỗi khi mưa, trong nhà ngươi phải đặt mười ba cái chậu.”
“Chỉ mười hai. Một cái là nồi.”
Phùng chưởng quầy đẩy miếng ngọc trở lại:
“Ta làm nghề cầm đồ, không làm nghề phá dỡ nhà hoang.”
Lý Trường Phong nhìn miếng ngọc trên quầy.
Ông đã tính rất kỹ.
Kho huyện có năm mươi lượng, đủ mua lương thực dùng trước một tháng.
Ngọc của ông đáng một trăm lượng, đủ mua công cụ phá đá.
Dân hai thôn bỏ sức.
Phú hộ trong huyện góp thêm.
Tất cả vừa vặn.
Chỉ có điều miếng ngọc không chịu phối hợp.
Nó chỉ đáng ba mươi mốt lượng.
Lý Trường Phong đứng trước quầy rất lâu, cuối cùng thở dài:
“Cha à, năm đó người nói hơi quá rồi.”
Phía sau bỗng vang lên một giọng nói:
“Có lẽ lệnh tôn không nói quá.”
Lý Trường Phong quay đầu lại.
Dưới mái hiên bên kia đường là một thiếu niên mặc trường sam màu xanh trúc. Tóc hắn búi gọn bằng một cây trâm gỗ, gương mặt thanh tú, sạch sẽ đến mức đứng giữa con phố đầy bụi đất của Thanh Hà trông có phần không hợp cảnh.
Giống như một bức tranh thủy mặc bị ai đó treo nhầm trong chuồng trâu.
Thiếu niên bước tới, đưa tay:
“Có thể cho ta xem miếng ngọc không?”
Lý Trường Phong nhìn hắn từ đầu đến chân.
“Ngươi biết xem ngọc?”
“Biết đôi chút.”
“Bao nhiêu tuổi?”
“Mười sáu.”
“Đã mở tiệm chưa?”
“Chưa.”
“Đã từng cầm đồ chưa?”
“Chưa.”
“Vậy lời ngươi nói có đáng tin hơn Phùng lão không?”
Thiếu niên mỉm cười:
“Ít nhất ta không định kiếm lời từ miếng ngọc của ngài.”
Phùng chưởng quầy trong tiệm lập tức đập bàn:
“Tiểu tử, ngươi nói ai kiếm lời?”
Thiếu niên áo xanh không đáp, chỉ đón lấy miếng ngọc từ tay Lý Trường Phong, đưa ra dưới ánh chiều tà.
Hắn nhìn một lát rồi nói:
“Ngọc này đúng là ngọc tốt. Nếu gặp đúng người, có thể bán khoảng sáu mươi lượng.”
Lý Trường Phong lập tức hỏi:
“Không phải một trăm?”
“Không.”
“Ngươi nhìn kỹ chưa?”
“Rất kỹ.”
“Có thể nhìn thêm lần nữa không?”
“Nhìn thêm cũng không tự mọc lớn hơn được.”
Lý Trường Phong thất vọng nhận lại miếng ngọc.
Phùng chưởng quầy đứng trong tiệm hừ một tiếng:
“Nghe thấy chưa? Ta cầm ba mươi mốt lượng, bán ra sáu mươi. Trừ tiền bảo quản, rủi ro, công sức tìm người mua, có vấn đề gì?”
Thiếu niên áo xanh bình thản đáp:
“Không có vấn đề.”
Phùng chưởng quầy vừa định hài lòng thì nghe hắn nói tiếp:
“Chỉ là hơi đen lòng.”
“Ngươi…”
Lý Trường Phong vội kéo thiếu niên đi trước khi Phùng chưởng quầy kịp cầm chổi đuổi người.
Hai người đi ra khỏi phố Đông.
Lý Trường Phong vừa đi vừa quay đầu nhìn phía sau, xác nhận Phùng chưởng quầy không đuổi theo mới hỏi:
“Ngươi là ai?”
“Vân Thanh Sơn.”
“Người Thanh Hà?”
“Không.”
“Đi ngang qua?”
“Ban đầu là vậy.”
“Bây giờ thì sao?”
Vân Thanh Sơn nhìn miếng ngọc trong tay ông:
“Bây giờ ta đang muốn xem một người đã không có tiền, vì sao vẫn dám hứa bỏ ra một trăm lượng.”
Lý Trường Phong ho khan:
“Lúc ấy ta tưởng mình có.”
“Ngài chưa từng hỏi giá?”
“Cha ta nói nó đáng một trăm lượng.”
“Ngài luôn dễ dàng tin người khác như vậy sao?”
“Ông ấy là cha ta.”
“Cha cũng có thể nói quá để con mình vui.”
Lý Trường Phong suy nghĩ một lát rồi gật đầu:
“Có lý. Khi ta còn nhỏ, ông ấy cũng từng nói ta có cốt cách trạng nguyên.”
Vân Thanh Sơn nhìn bộ áo vải xám đã sờn vai, hồ lô rượu bên hông, vết bùn hình móng trâu còn in giữa ngực áo ông.
Hắn trầm mặc một lát:
“Xem ra lệnh tôn quả thật rất thương ngài.”
Lý Trường Phong nghe ra ý khác trong câu ấy, nhưng ông không có chứng cứ.
Hai người đi thêm một đoạn.
Vân Thanh Sơn hỏi:
“Bây giờ ngài định làm gì?”
“Cầm ngọc lấy ba mươi mốt lượng trước.”
“Còn thiếu gần bảy mươi lượng.”
“Ta đi vay.”
“Lấy gì trả?”
“Bổng lộc.”
“Mỗi năm ngài được bao nhiêu?”
Lý Trường Phong không đáp.
Vân Thanh Sơn hỏi tiếp:
“Ba năm?”
Lý Trường Phong nhìn trời.
“Năm năm?”
Lý Trường Phong nhìn đất.
“Tám năm?”
Lý Trường Phong đưa tay gãi mũi:
“Nếu không ăn không uống, khoảng tám năm.”
“Ngài định tám năm không ăn?”
“Có thể đến quán của bằng hữu ghi nợ.”
Vân Thanh Sơn nhớ tới chưởng quầy quán rượu đã hơn một lần đuổi theo gã đồ tể đòi tiền, bỗng cảm thấy người này có một niềm tin rất kỳ lạ đối với sức chịu đựng của người chủ bán rượu.
“Ngài cứu Vương thúc bằng tiền sửa nhà.”
“Phải.”
“Bây giờ lại định cầm ngọc, vay thêm bạc, lấy tám năm bổng lộc đi đào kênh.”
“Phải.”
“Nếu tháng sau lại có người cần cứu thì sao?”
Lý Trường Phong đáp rất tự nhiên:
“Tháng sau tính tiếp.”
Vân Thanh Sơn dừng bước.
Đến lúc này, hắn cuối cùng đã chắc chắn.
Giới hạn chí mạng của Lý Trường Phong không phải không đủ thông minh.
Cũng không phải không nhìn thấy đường dài.
Mà là mỗi khi trước mắt có người sắp rơi xuống vực, ông sẽ nhảy tới kéo người ấy lại trước, rồi mới nhớ ra dưới chân mình cũng không có đất.
Người như vậy có thể khiến tất cả mọi người cảm động.
Cũng rất dễ khiến chủ tiệm cầm đồ cảm động.
Bởi sớm muộn gì ông cũng sẽ đem toàn bộ gia sản của mình tới đó.
Lý Trường Phong thấy thiếu niên áo xanh im lặng quá lâu, bèn hỏi:
“Sao vậy?”
Vân Thanh Sơn nhìn miếng ngọc trong tay ông:
“Ta đang nghĩ, nếu không có ai ngăn lại, một ngày nào đó ngài thật sự sẽ đem cả bản thân mình đi cầm.”
Lý Trường Phong bật cười:
“Ta đáng bao nhiêu?”
Vân Thanh Sơn nghiêm túc nhìn ông từ đầu đến chân.
“Khó nói.”
“Vì sao?”
“Danh tiếng rất đáng tiền.”
“Ừm.”
“Nhưng căn nhà của ngài kéo giá xuống quá nhiều.”
Lý Trường Phong nghẹn họng.
Gió chiều thổi qua con phố Thanh Hà, mang theo mùi bùn đất, mùi khói bếp và tiếng người gọi nhau về ăn cơm từ xa xa.
Vân Thanh Sơn quay đầu nhìn về phía gò Đá Trắng.
Dưới ánh nắng cuối ngày, gò đá vẫn nằm im lìm bên bờ sông, giống như một con thú lớn đang chắn ngang đường sống của hai thôn.
Lý Trường Phong chỉ thấy một con đường phải đào bằng bạc, mồ hôi và nợ nần.
Nhưng trong mắt Vân Thanh Sơn, có thứ gì đó rất khác đang dần hiện ra.
“Ta có một cách.”
“Ngươi có cách khác sao?”
“Có.”
“Cần bao nhiêu tiền?”
“Trước mắt không cần tiền.”
Hai mắt Lý Trường Phong lập tức sáng lên:
“Không cần tiền?”
“Ta nói trước mắt.”
“Cũng tốt hơn cần ngay bây giờ.”
Vân Thanh Sơn nhìn vẻ mặt vui mừng của ông, bỗng hiểu vì sao người dân Thanh Hà thích người này.
Ông không giả vờ hiểu những điều mình không biết.
Cũng chẳng xấu hổ khi phải hỏi một thiếu niên nhỏ hơn mình gần hai mươi tuổi.
Chỉ cần có cách cứu được dân, ai nghĩ ra dường như không quan trọng.
Thư viện nội dung
Wiki test.fydhub.com
Bản đồ test.fydhub.com
Chưa có bản đồ.