FYD App
Người Ta Còn Tin Ta
Sau chuyện giải vây cho Vương thúc, danh tiếng của Lý Trường Phong ở Thanh Hà lại lớn thêm một chút.
Danh tiếng lớn lên, túi tiền nhỏ đi, còn mái nhà phía tây của ông thì vẫn dột như cũ.
Có người hỏi ông có tiếc số bạc dành dụm cả năm không. Lý Trường Phong đáp rất thản nhiên:
“Tiếc chứ.”
“Vậy sao huynh vẫn đưa?”
“Bởi vì vừa tiếc vừa đưa mới gọi là cứu người. Không tiếc thì gọi là nhà giàu phát chẩn.”
Người hỏi nghe xong thấy rất có lý.
Chỉ có chưởng quầy quán rượu đứng bên cạnh cười lạnh:
“Người nợ tiền rượu hai tháng mà cũng dám tự nhận mình có của để tiếc.”
Lý Trường Phong lập tức quay sang bàn bên cạnh nói chuyện, coi như không nghe thấy.
Cuộc sống của vị Đình trưởng áo vải vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu.
Sáng sớm, ông xách hồ lô đi dọc bờ đê. Trưa ngồi dưới gốc đa xử mấy chuyện gà nhà này sang vườn nhà kia bới rau, chó nhà kia đuổi cắn vịt nhà này. Tối đến, nếu trong túi còn tiền thì ông kéo đám bằng hữu ra quán uống rượu. Nếu không còn tiền, ông vẫn kéo họ ra quán, chỉ khác ở chỗ ai trả thì chưa biết.
Ngày tháng cứ thế trôi qua, bình lặng như dòng sông Thanh.
Cho đến một buổi sáng đầu hạ, khi sương mù còn chưa tan hết trên mái ngói rêu phong của huyện nha.
Thùng! Thùng! Thùng!
Tiếng trống kêu oan bất ngờ vang lên, dồn dập đến mức đàn chim sẻ đang đậu trên mái cũng hoảng hốt bay tán loạn.
Tri huyện Thanh Hà vừa tỉnh ngủ, cuống cuồng khoác quan phục chạy ra. Áo mặc lệch một vạt, đai lưng thắt chưa chặt, quan mạo cũng hơi nghiêng sang bên trái. Nhưng thấy bên dưới đã có đông đảo dân chúng, ông lập tức ngồi thẳng lưng, cố gắng bày ra dáng vẻ uy nghiêm.
Ông đập kinh đường mộc xuống bàn:
“Đầu năm đầu tháng, có chuyện gì mà kéo nhau đến huyện nha làm loạn?”
Một lão nông tóc bạc đang cầm dùi trống lập tức quỳ xuống. Tấm áo tơi rách trên người lão đã ướt đẫm mồ hôi.
“Đại nhân! Xin đại nhân làm chủ cho dân Tây Hà chúng tôi!”
Phía sau lão là hơn ba mươi trai tráng cùng già trẻ trong thôn. Người nào người nấy mắt đỏ ngầu, tay nắm chặt gậy gộc và cán cuốc.
Tri huyện nhìn đám người ấy, cơn buồn ngủ lập tức tan sạch.
“Có chuyện gì, nói rõ!”
“Người Đông Hà đang đắp đập chặn nước!”
Lão nông nghiến răng, run rẩy chỉ tay ra ngoài:
“Nếu họ chặn dòng sông Thanh, hơn ngàn mẫu ruộng đang trổ bông của Tây Hà sẽ chết khô. Họ không để cho chúng tôi đường sống!”
Dân Tây Hà phía sau lập tức đồng thanh:
“Xin đại nhân ngăn họ lại!”
“Đông Hà muốn bức chết chúng tôi!”
Tiếng hô còn chưa dứt, ngoài cổng huyện nha đã vang lên một trận bước chân rầm rập.
Hơn ba mươi người Đông Hà cầm cuốc, xẻng và đòn gánh kéo tới. Dẫn đầu là một tráng niên cao lớn tên Đại Lực. Gã chen qua đám đông, quỳ xuống giữa công đường:
“Đại nhân, xin ngài minh xét! Ruộng Đông Hà ở thế đất cao, nước vừa dẫn vào đã rút mất quá nửa. Năm nay trời hạn, nếu không đắp đập giữ nước, hoa màu của chúng tôi cũng mất trắng!”
Gã ngẩng đầu, giọng vừa tức vừa nghẹn:
“Dân Tây Hà cần sống, chẳng lẽ dân Đông Hà chúng tôi không cần sống sao?”
Hai bên lập tức ồn ào.
“Các ngươi giữ hết nước thì chúng ta uống bùn à?”
“Không giữ nước thì ruộng chúng ta còn chẳng có bùn mà uống!”
“Ba năm trước ai cho các ngươi vay giống?”
“Năm ngoái ai giúp các ngươi vá đê?”
“Giúp thì giúp, cũng đâu thể lấy mạng cả thôn chúng ta ra trả!”
Những lời cũ mới va vào nhau, càng nói càng nóng.
Người Tây Hà nắm chặt cán cuốc. Người Đông Hà siết tay quanh đòn gánh. Hai bên đứng cách nhau chưa đầy mười bước, ánh mắt như muốn dùng luôn đối phương thay cho trâu cày.
Nếu không phải đám nha dịch đang chắn giữa sân, cộng thêm tấm biển “Minh kính cao huyền” treo trên công đường, có lẽ hai thôn đã giúp huyện nha đổi màu nền gạch.
Tri huyện ngồi phía trên, đầu đau như bị hai đội thợ rèn thay nhau gõ.
Ông làm quan ở Thanh Hà nhiều năm, đương nhiên hiểu nguyên do.
Mấy tháng qua trời gần như không mưa. Nước sông Thanh đã cạn đến mức trẻ con có thể xắn quần lội qua vài đoạn.
Đắp đập thì Đông Hà có nước, Tây Hà chịu hạn.
Phá đập thì nước chảy xuống Tây Hà, ruộng Đông Hà trên cao lại khô.
Nước chỉ có một dòng, người cần nước lại có hai thôn. Dù xử thế nào cũng sẽ có một bên chỉ vào mặt ông mà mắng là cẩu quan.
Đúng lúc Tri huyện đang cân nhắc xem giả bệnh ngất xỉu có quá mất mặt hay không, một nha dịch chạy lên thềm, ghé tai nói nhỏ:
“Đại nhân, Lý đình trưởng tới rồi.”
Hai mắt Tri huyện lập tức sáng lên.
“Mau! Cho hắn vào!”
Nha dịch còn chưa kịp truyền gọi, bên ngoài đã vang lên một giọng nói:
“Không cần gọi. Ta bị tiếng trống đánh tỉnh từ tận đầu phố rồi.”
Lý Trường Phong bước qua cổng huyện nha.
Ông vẫn mặc bộ áo vải xám cũ, ống quần bên cao bên thấp, bên hông đeo một hồ lô rượu. Trên tay còn cầm nửa chiếc bánh hấp, rõ ràng đang ăn sáng thì bị lôi đến.
Nhìn ông không giống người tới giải quyết đại sự liên quan đến sinh kế hai thôn.
Trông giống người đi ngang qua, nghe nơi này có náo nhiệt nên tiện thể ghé vào xem.
Thế nhưng khi Lý Trường Phong bước qua bậu cửa, tiếng cãi vã trong sân lại dần im xuống.
Người Tây Hà nhìn ông.
Người Đông Hà cũng nhìn ông.
Không phải vì chức Đình trưởng của ông lớn.
Mà vì những năm qua, khi hai bên có chuyện, người chịu đứng giữa nghe họ mắng từ đầu đến cuối thường chỉ có người đàn ông này.
Tri huyện lập tức hỏi:
“Trường Phong, ngươi đến đúng lúc lắm. Chuyện tranh nước giữa hai thôn, ngươi xem nên xử thế nào?”
Lý Trường Phong không đáp ngay.
Ông cắn nốt miếng bánh, phủi vụn bột trên tay rồi đi một vòng quanh sân. Ông nhìn gương mặt hốc hác của dân Đông Hà, lại nhìn những đôi mắt vừa giận dữ vừa sợ hãi của dân Tây Hà.
Cuối cùng, ông dừng lại giữa hai bên.
“Lão Trương.”
Lão nông tóc bạc của Tây Hà ngẩng đầu:
“Có ta.”
“Năm ngoái đê Tây Hà bị vỡ, người Đông Hà có phải đã gánh đất suốt ba đêm giúp các ngươi vá đê không?”
Lão Trương mím môi:
“Phải.”
“Đại Lực.”
Tráng niên Đông Hà cúi đầu:
“Phong ca.”
“Ba năm trước Đông Hà gặp nạn châu chấu, là ai mở kho cho các ngươi vay một trăm thúng giống, đến mùa sau mới trả?”
Đại Lực im lặng một lúc mới đáp:
“Là người Tây Hà.”
Lý Trường Phong gật đầu:
“Vậy là tốt. Ít nhất trí nhớ của các ngươi vẫn còn dùng được.”
Không ai dám lên tiếng.
Ông nhìn hai đám người đang cầm cuốc xẻng, thở dài:
“Năm ngoái còn cùng nhau gánh đất. Ba năm trước còn chia nhau thóc giống. Năm nay sông cạn một chút, các ngươi đã định dùng chính những cái cuốc từng đào đê cứu nhau để bổ vào đầu nhau rồi sao?”
Vài người lặng lẽ hạ thấp cây gậy trong tay.
Đại Lực đỏ mặt nhưng vẫn cố nói:
“Phong ca, chúng tôi biết Tây Hà từng có ơn. Nhưng nếu không giữ nước, trẻ con Đông Hà cũng sẽ đói.”
Lão Trương lập tức đáp:
“Còn nếu các ngươi chặn nước, trẻ con Tây Hà sẽ no chắc?”
“Ta đâu nói như vậy!”
“Thế ngươi còn đắp đập?”
Hai bên lại bắt đầu ồn lên.
Lý Trường Phong giơ tay:
“Được rồi. Các ngươi không phải hai đám người xấu. Chỉ là hai đám người cùng sợ đói, lại đứng ở hai đầu một con sông cạn mà thôi.”
Công đường chợt yên xuống.
Cơn giận có thể khiến người ta nhìn nhau như kẻ thù.
Nhưng nỗi sợ được nói thành lời lại khiến họ nhớ ra đối phương cũng chỉ là những người nông dân đang muốn bảo vệ gia đình.
Lý Trường Phong quay sang hỏi:
“Đập Đông Hà đã đắp đến đâu rồi?”
“Mới được hơn nửa.”
“Nước hiện tại đủ giữ ruộng Đông Hà mấy ngày?”
“Nếu khóa dòng hoàn toàn thì khoảng năm ngày.”
“Ruộng Tây Hà chịu thêm được bao lâu?”
Lão Trương đáp:
“Ba ngày nữa không có nước, lúa non sẽ bắt đầu cháy lá.”
Lý Trường Phong ngồi xổm xuống nền, nhặt một viên đá vạch thành mấy đường trên đất.
“Vậy không được chặn kín dòng.”
Ông chỉ vào đường vừa vẽ:
“Ban ngày Đông Hà giữ nước vào ruộng cao. Đến cuối giờ Thân phải mở cửa đập, xả nước xuống Tây Hà suốt đêm. Nước đi ban đêm ít hao hơn dưới nắng. Cứ hai ngày đổi một lượt, tùy mực nước mà điều chỉnh.”
Đại Lực cau mày:
“Nếu người Tây Hà lấy quá phần thì sao?”
Lão Trương lập tức nổi giận:
“Ai thèm lấy quá phần của các ngươi?”
Lý Trường Phong dùng viên đá gõ xuống nền:
“Vì thế mỗi đêm sẽ có bốn người canh đập. Hai người Đông Hà, hai người Tây Hà. Mực nước khắc dấu lên cọc. Ai tự ý chặn hoặc tháo đập, cả hai thôn cùng phạt.”
Ông ngẩng lên nhìn hai người:
“Các ngươi không tin thôn bên cạnh thì tự mình đứng đó nhìn. Nhìn lâu rồi sẽ thấy người bên kia cũng chỉ có hai con mắt, một cái bụng, chẳng mọc thêm nanh vuốt gì đâu.”
Trong đám đông có người bật cười.
Không khí căng như dây cung cuối cùng cũng chùng xuống một chút.
Tri huyện vuốt râu:
“Cách ấy có thể cứu được vụ lúa trước mắt. Nhưng năm sau nếu lại hạn thì sao?”
“Đó mới là chuyện khó.”
Lý Trường Phong đứng dậy, chỉ về phía bắc:
“Phía bắc sông Thanh có một nhánh nước cũ. Nếu đào kênh xuyên qua gò Đá Trắng, có thể dẫn thêm nước về vùng ruộng giữa hai thôn.”
Một lão nông am hiểu địa thế lắc đầu:
“Cách ấy trước đây cũng từng có người nghĩ tới. Nhưng gò Đá Trắng toàn đá cứng. Muốn đào xuyên qua phải mất ít nhất ba tháng, còn cần công cụ, lương thực nuôi phu. Dân hai thôn chúng tôi vét cả nhà cũng chẳng có nổi số bạc ấy.”
Niềm hy vọng vừa xuất hiện trong mắt mọi người lại lặng lẽ tắt đi.
Người nghèo thường không sợ làm việc.
Họ chỉ sợ có những con đường rõ ràng ở ngay trước mắt, nhưng bước chân đầu tiên lại đòi hỏi số tiền họ cả đời cũng không kiếm nổi.
Lý Trường Phong gật đầu, quay sang Tri huyện:
“Đại nhân, kho huyện còn bao nhiêu bạc cứu chẩn?”
Tri huyện giật mình:
“Ngươi hỏi chuyện đó làm gì?”
“Để mua gạo nuôi người đào kênh.”
“Xuất kho phải làm công văn, còn phải trình lên châu phủ. Thủ tục rất phức tạp.”
“Cứ làm.”
“Không phải ngươi nói làm là làm được!”
“Vậy còn bao nhiêu?”
Tri huyện chần chừ:
“Khoảng năm mươi lượng.”
“Đủ mua lương thực dùng trước trong một tháng.”
“Nhưng nếu châu phủ trách tội thì sao?”
Lý Trường Phong nhìn ông:
“Đại nhân có thể nói là bị gần trăm người cầm cuốc ép buộc.”
Tri huyện liếc xuống sân.
Gần trăm người rất phối hợp, đồng loạt siết chặt cán cuốc.
Tri huyện ho khan:
“Bản quan suy nghĩ lại rồi. Cứu dân chống hạn vốn là bổn phận của quan phụ mẫu. Công văn có thể vừa làm vừa trình.”
Lý Trường Phong mỉm cười:
“Đại nhân quả nhiên yêu dân như con.”
Tri huyện nghe thế nào cũng cảm thấy câu ấy không hoàn toàn là khen, nhưng trước mặt dân chúng lại không tiện hỏi.
Lý Trường Phong đưa tay lên hông, tháo xuống một miếng ngọc bội.
Miếng ngọc màu trắng ngà, góc cạnh đã mòn đi vì nhiều năm được người ta mang bên mình. Ông đặt nó lên bàn đánh “cạch” một tiếng.
Đám bằng hữu thường uống rượu với ông lập tức nhận ra.
Đó là vật duy nhất cha ông để lại.
Gã đồ tể đứng ngoài cửa trố mắt:
“Phong ca, huynh định làm gì?”
“Đem cầm.”
“Lần trước huynh lấy tiền sửa mái nhà cứu Vương thúc. Lần này lại mang ngọc tổ truyền đi đào kênh. Sau này nếu còn có chuyện, huynh định bán gì nữa?”
Lý Trường Phong nghiêm túc suy nghĩ, cúi xuống nhìn mình:
“Có lẽ vẫn còn bộ áo này.”
Chưởng quầy đứng trong đám đông lập tức nói:
“Áo huynh đem bán còn không đủ trả hai tháng tiền rượu.”
Công đường vang lên vài tiếng cười.
Lý Trường Phong quyết định bỏ qua chưởng quầy, chỉ vào miếng ngọc:
“Miếng ngọc này có thể cầm được khoảng một trăm lượng. Dùng số bạc ấy mua búa, đục, xe kéo và dây thừng.”
Ông nhìn quanh:
“Kho huyện bỏ năm mươi lượng mua lương thực. Ta bỏ một trăm lượng mua công cụ. Những nhà khá giả trong huyện, ta sẽ đích thân đến xin họ góp thêm.”
Tri huyện dè dặt hỏi:
“Ngươi định xin thế nào?”
“Trước tiên dùng lời lẽ.”
“Nếu họ không chịu?”
“Ta sẽ ngồi trước cửa nhà họ ăn cơm.”
Tri huyện ngẩn ra:
“Ăn cơm của ai?”
“Đương nhiên là của họ. Ta ngồi lì ba ngày, xem ai mất mặt trước.”
Gã đồ tể lập tức giơ tay:
“Ta đi cùng!”
Chưởng quầy nhắc nhở:
“Ngươi chỉ muốn ăn chực.”
“Ăn chực cũng cần người có bản lĩnh.”
Tiếng cười lần này lớn hơn.
Lý Trường Phong đợi mọi người yên lại mới nói tiếp:
“Người của hai thôn cùng đào kênh. Mỗi nhà góp người theo sức, không ép người già yếu, không bắt nhà có người bệnh. Người đi đào kênh được phát lương thực từ kho huyện, không để vợ con họ ở nhà chịu đói.”
Ông dùng viên đá vạch một đường dài xuyên qua hình gò đất:
“Vụ lúa trước mắt, chúng ta chia nước mà cứu. Con kênh này là để những năm sau, con cháu hai thôn không còn phải vác cuốc đến huyện nha tranh nhau từng gàu nước.”
Lý Trường Phong ném viên đá xuống, nhìn thẳng vào dân chúng hai bên:
“Ba tháng đào đá, chắc chắn sẽ mệt. Có người sẽ chảy máu tay, có người sẽ muốn bỏ cuộc, có người còn quay sang mắng ta nghĩ ra chuyện khổ sai này.”
Ông nhếch miệng:
“Nhưng đào xong rồi, Đông Hà không phải chặn đường sống của Tây Hà. Tây Hà cũng không cần ngửa tay xin nước Đông Hà. Con cháu các ngươi có thể đứng bên cùng một dòng kênh mà cãi nhau chuyện khác.”
Một người trong đám đông hỏi:
“Cãi chuyện gì?”
“Chẳng hạn trâu nhà ai giẫm lúa nhà ai. Chuyện ấy nhẹ hơn, cùng lắm lại gọi ta đến.”
Tiếng cười lan khắp sân.
Lão Trương nhìn người Đông Hà phía đối diện. Đại Lực cũng nhìn lại ông.
Hai người từng cùng nhau chống lũ, từng chia nhau thóc giống. Chỉ vì một dòng nước cạn mà sáng nay họ suýt để con cháu nhìn thấy mình đánh chết hàng xóm.
Đại Lực chậm rãi đặt cây cuốc xuống:
“Đông Hà xin nhận ca đào đầu tiên.”
Lão Trương cũng chống tay đứng dậy:
“Tây Hà sẽ cùng làm.”
“Không sợ chúng ta lấy quá phần nước nữa sao?”
Lão Trương hừ một tiếng:
“Ta sẽ tự ra đập nhìn. Ngươi dám lấy hơn một tấc, ta xuống nước kéo chân ngươi.”
Đại Lực bật cười:
“Lão xuống được đến đập rồi hãy nói.”
Những cây cuốc và gậy gộc lần lượt được hạ xuống.
Một lão nông nhìn miếng ngọc trên bàn, mắt đỏ hoe:
“Đình trưởng, đó là di vật của lệnh tôn. Chúng tôi không thể để ngài đem cầm được.”
“Vật là vật chết, người là người sống.”
Lý Trường Phong cầm miếng ngọc lên, dùng tay áo lau nhẹ:
“Nếu một mảnh ngọc đổi được nước cho mấy ngàn mẫu ruộng, đổi được cơm cho trẻ con hai thôn, cha ta dưới suối vàng biết chuyện chắc cũng sẽ vui.”
Ông ngẫm nghĩ rồi bổ sung:
“Có điều ông ấy vốn rất quý miếng ngọc này. Vui xong có đánh ta một trận hay không thì khó nói.”
Mọi người vừa muốn khóc lại vừa không nhịn được cười.
Lão Trương quỳ xuống:
“Đại ân của Đình trưởng…”
Lý Trường Phong lập tức nắm vai kéo lão lên:
“Khoan! Ta còn chưa chết, đừng vội quỳ.”
Mấy người phía sau vừa cong đầu gối nghe vậy lại vội đứng thẳng.
“Muốn cảm ơn thì ra đào kênh. Ba tháng sau nước chưa chảy tới ruộng, lúc ấy hãy cùng nhau quay lại đây mắng ta.”
Ông quay sang Tri huyện:
“Xin đại nhân lập văn thư chia nước, đóng dấu ngay hôm nay. Việc xuất kho và thuê thợ đá cũng phải ghi rõ từng khoản, dán ngoài cổng huyện nha cho dân hai thôn cùng xem.”
Tri huyện ngẩn người:
“Còn phải dán ra ngoài sao?”
“Dân bỏ sức, huyện bỏ bạc. Đương nhiên phải cho họ biết bạc đi đâu.”
“Ngươi không tin bản quan?”
Lý Trường Phong mỉm cười:
“Ta tin. Nhưng để tất cả mọi người cùng tin thì vẫn tốt hơn.”
Tri huyện im lặng nhìn gần trăm đôi mắt đang hướng về mình, cuối cùng đành gật đầu:
“Dán. Nhất định dán.”
Chưa đầy nửa canh giờ trước, người của hai thôn còn muốn đánh nhau sống chết.
Lúc rời huyện nha, họ đã bắt đầu tranh xem đội nào đào đá khỏe hơn.
“Đông Hà chúng ta quen làm ruộng cao, sức chân vững!”
“Tây Hà từng vá cả đoạn đê trong một đêm, đào cái gò đá thì đáng gì!”
“Vậy thi xem!”
“Thi thì thi!”
Lý Trường Phong đi giữa đám đông, nghe hai bên ầm ĩ thì lắc đầu:
“Ta vừa ngăn được một trận đánh nhau, sao lại cảm thấy mình sắp phải ngăn thêm một trận nữa?”
Gã đồ tể khoác vai ông:
“Trận này tốt. Bên thua trả tiền rượu.”
Chưởng quầy đi phía sau lập tức hỏi:
“Vậy hai tháng nợ cũ của ngươi tính cho bên nào?”
Gã đồ tể không đáp, đột nhiên bước nhanh hơn hẳn.
Chưởng quầy cũng lập tức đuổi theo.
“Ngươi đứng lại cho ta!”
Tiếng cười vang dọc con phố.
Không ai chú ý dưới mái hiên đối diện huyện nha, thiếu niên áo xanh đã đứng đó từ lâu.
Vân Thanh Sơn lặng lẽ nhìn miếng ngọc trong tay Lý Trường Phong.
Lần trước, người đàn ông ấy đem tiền sửa mái nhà cứu một lão nông.
Lần này, ông lại mang di vật của cha mình đổi lấy một con kênh cho hai thôn.
Nếu Thanh Hà xảy ra thêm vài vụ nữa, không biết trên người vị Đình trưởng ấy còn thứ gì có thể đem bán.
Ánh mắt Vân Thanh Sơn dừng lại trên chiếc hồ lô bên hông ông.
Hắn suy nghĩ một lát rồi khẽ lắc đầu.
Thứ ấy có lẽ không đáng bao nhiêu tiền.
“Kẻ cầm quyền dùng luật để trị. Kẻ bá chủ dùng sức để bình.”
Thiếu niên nhìn bóng lưng Lý Trường Phong đang đi giữa đám đông.
“Còn người này…”
Hắn im lặng hồi lâu, khóe môi dần hiện lên một nụ cười rất nhạt.
“Có thể khiến tất cả mọi người tin mình, lại chẳng biết chừa cho mình một đường lui.”
Nghe có vẻ chỉ là một thói quen hơi ngốc nghếch của một người tốt.
Nhưng Vân Thanh Sơn biết, đó không phải chuyện nhỏ.
Trong một huyện Thanh Hà nghèo khó, nó có thể khiến Lý Trường Phong mất một mái nhà, một miếng ngọc.
Nếu bước vào một nơi lớn hơn, gặp những con người không biết nhớ ơn, thứ ông phải mất có lẽ sẽ không còn đơn giản như vậy.
Vân Thanh Sơn bước khỏi mái hiên.
Lần này, hắn không xoay người rời đi.
Hắn chậm rãi bước theo đoàn người đang hướng về phía bờ sông, vừa đi vừa âm thầm nghĩ:
Một người có thể cứu được cả hai thôn.
Nhưng xem ra, sớm muộn cũng cần có người cứu ông ta khỏi chính mình.
Và Vân Thanh Sơn không phải đợi quá lâu để thấy ngày ấy.
Thư viện nội dung
Wiki test.fydhub.com
Bản đồ test.fydhub.com
Chưa có bản đồ.